Ngay sau khi ăn trưa xong, Peter McDermott lẩn nhanh về nhà thay bộ com lê anh vẫn mặc trong những giờ làm việc chính thức tại khách sạn để vận một chiếc quần lanh và khoác áo vét tông mỏng. Anh quay lại văn phòng của mình một lát, ký mấy lá thư, đặt lên bàn của Flore:
– Cuối buổi chiều hôm nay tôi sẽ trở về – Anh lại hỏi thêm – Chị biết gì thêm về ông Ogylvie chưa?
Chị thư ký lắc đầu:
– Chưa có gì cả. Anh đã dặn tôi cố tìm xem ông Ogylvie bảo với ai là ông ấy đi đâu không. Nhưng không thấy ông ấy nhắn lại với ai cả.
Peter cân nhắc:
– Tôi cũng đoán như vậy.
– Có một điều… – Flore ngập ngừng – Kể ra cũng không quan trọng, nhưng có vẻ kỳ kỳ thế nào ấy.
– Sao?
– Chiếc xe ông Ogylvie sử dụng, anh nói là xe Jaguar phải không?
– Phải.
– Xe của ông bà Công tước Croydon đấy.
– Chị có chắc là ai đó đã cho lấy nhầm xe không?
– Tôi cũng thắc mắc chuyện đó – Flore nói – Vì vậy tôi đã hỏi gara để kiểm tra kép. Người ta bảo tôi nói chuyện với một bác tên là Kulgmer, trực giữa đêm hôm qua.
– Có, tôi có biết bác ta.
– Bác ta làm ca đêm hôm qua, nên tôi phôn cho bác ấy tại nhà. Bác ta bảo tôi ông Ogylvie có giấy ủy quyền sử dụng xe của bà Công tước.
Peter nhún vai:
– Vậy thì không có gì sai trái cả – Tuy nhiên anh thấy lạ trước việc Ogylvie sử dụng xe của vợ chồng Croydon và càng lạ hơn, không hiểu giữa ông bà Công tước với lão phụ trách an ninh khách sạn có quan hệ gì khác thường như vậy. Rõ ràng, Flore cũng đang thắc mắc một điều như thế.
Anh hỏi:
– Chiếc xe đó đã trở về chưa?
Flore lắc đầu:
– Tôi định hỏi lại bà Công tước Croydon. Song tôi nghĩ nên hỏi anh trước thì hơn.
– Tôi mừng là chị đã nghĩ như vậy – Peter cho rằng tình hình sẽ đơn giản nếu anh hỏi ông bà Croydon xem họ có biết Ogylvie đi đâu. Bởi vì ông ta lấy xe của họ thì có thể họ sẽ phải biết đi đâu. Thế nhưng anh thấy ngần ngại.
Sau lần va chạm với bà Công tước buổi tối thứ hai, Peter không muốn bị người ta hiểu lầm một lần nữa, đặc biệt đây có thể là một câu hỏi tò mò, xâm phạm vào chuyện riêng tư. Và như thế anh cũng tự thú nhận cho người ta biết rằng khách sạn không nắm được nhân viên an ninh của khách sạn đi đâu. Anh bảo Flore:
– Thôi, tạm thời cứ xếp chuyện đó lại.
Peter nhớ ra vẫn còn một việc nữa chưa giải quyết. Đó là chuyện Herbie Chandler. Sáng nay anh định báo cáo với Warren Trent về những lời khai của Dixon, Dumaire và hai thanh niên trong đó có nhắc đến việc người phụ trách trực tầng dính líu vào nhiều sự kiện dẫn đến vụ mưu toan bức dâm. Tuy nhiên khi thấy ông chủ khách sạn đang còn bận bịu suy nghĩ, anh đã gác ý định đó lại… Bây giờ anh nghĩ tốt nhất là chính anh sẽ gặp Chandler.
– Chị kiểm tra lại xem tối nay Chandler có trực không – Anh ra chỉ thị cho Flore – Nếu ông ta trực thì chị bảo tôi muốn gặp ông ấy tại đây, lúc sáu giờ. Nếu không thì sáng mai cũng được.
Peter rời cụm phòng hành chính, đi xuống sảnh. Vài phút sau, anh bước ra phố St. Chales rực ánh nắng chói chang đầu buổi chiều.
– Anh Peter! Em đây mà!
Anh ngoảnh lại, thấy Marsha vẫy anh. Cô đang ngồi bên tay lái chiếc xe hơi không mui sơn trắng, đỗ cạnh những hãng xe tắc xi. Người gác cửa khách sạn nhanh chân mở cửa xe cho anh. Khi anh yên chỗ ngồi bên cạnh Marsha, anh trông thấy có ba anh tài xế cười nhăn nhở, một gã còn huýt sáo một hơi dài.
– Chào anh. – Marsha nói – Nếu anh không ra thì em định đón một khách đi xe vậy – Trong bộ váy dài nhẹ nhõm mặc mùa hè, trông cô vẫn hấp dẫn như mọi khi, nhưng qua lời chào thoải mái kia anh cảm giác cô có vẻ e thẹn gì đó. Có lẽ vẫn vì chuyện xảy ra giữa hai người đêm hôm trước. Anh bỗng hứng lên, cầm một tay cô xiết chặt.
– Em thích được như vậy – Cô bảo với anh – Mặc dù em đã hứa với ba em là luôn luôn lái xe bằng cả hai tay.
Các tài xế xe tắc xi di chuyển xe của họ lấy lối cho cô đưa ô tô ra khỏi chỗ đỗ.
Lúc họ đang đợi đèn xanh trên phố Canal, Peter thầm nghĩ hình như thời gian gần đây anh thường được phụ nữ hấp dẫn lái xe cho đi dạo quanh New Orleans. Mới cách đây ba hôm chẳng phải anh đã đi cùng với Christine trên chiếc Volkwagen về nhà cô đây sao? Cũng đêm hôm đó anh đã gặp Marsha lần đầu tiên. Thời gian dường như kéo dài hơn ba ngày, có lẽ là do có lời cầu hôn của Marsha xen vào trong thời gian này. Giữa thực tế ban ngày, anh tự hỏi không biết cô đã suy nghĩ kỹ lại chưa, tuy vậy anh thầm nhủ dù trong trường hợp nào, anh cũng không nói gì cả một khi tự cô không khơi lại vấn đề.
Anh lại thấy một cảm xúc kích động, như lần trước ngồi gần Marsha. Anh nhớ những giây phút chia tay tối hôm trước, chiếc hôn êm dịu cùng với tình cảm say đắm mỗi lúc một tăng và sự giữ gìn ý tứ một lúc một giảm. Anh nhớ cái giây phút ngợp thở khi anh nhận ra Marsha không còn là một thiếu nữ, mà là một phụ nữ, nhớ lại lúc anh ghì chặt lấy cô và cảm nhận cái cơ thể đòi hỏi rạo rực của cô.
Anh nhìn trộm Marsha, toàn thân cô toát ra vẻ trẻ trung hăm hở, động tác chân tay uyển chuyển, các đường cong thon thả dưới làn áo mỏng dính. Nếu như anh giang tay ra…
Anh cố ghìm mình. Và trong khi tự kiềm chế, anh thầm nhắc bản thân rằng từ khi anh trưởng thành, quan hệ với phụ nữ đã ảnh hưởng không tốt đến suy nghĩ của anh, đẩy anh vào những hành động thiếu chín chắn.
Marsha liếc nhìn sang phía anh, không chú ý gì đến xe cộ phía trước:
– Vừa rồi anh nghĩ gì vậy?
– Lịch sử – Anh nói dối – Chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu nhỉ?
– Từ nghĩa trang cũ St. Louis. Anh đã tới đó bao giờ chưa?
Peter lắc đầu:
Tôi chưa bao giờ đưa nghĩa trang vào danh sách địa điểm phải tham quan.
– Ở New Orleans này phải khác.
Xe chạy một quãng ngắn thì tới phố Basin. Marsha đỗ xe vào phía nam, rồi họ đi qua đại lộ tới khu nghĩa trang có tường bao bọc. Đây là nghĩa trang St. Louis số một, cửa vào là những hàng cột kiểu cổ.
– Nhiều chuyện lịch sử bắt đầu từ đây – Marsha vừa nói vừa khoác tay Peter – Vào đầu những năm 1700, khi người Pháp xây dựng thành phố New Orleans, khu đất này chủ yếu là sình lầy. Ngay bay giờ, ở đây vẫn có thể còn sình lầy nếu không có những con đê ngăn nước sông chảy tràn vào.
– Tôi biết dưới lòng thành phố này còn ẩm thấp – Peter nói – Trong tầng hầm của khách sạn, mỗi ngày hai mươi bốn giờ, chúng tôi phải bơm nước thải lên cao, chứ không phải xuống thấp, có như thế nó mới chảy ra được hệ thống cống của thành phố.
– Trước đây chỗ này còn ẩm thấp hơn nhiều. Ngay ở những nơi khô ráo nước cũng ngập đến gần một mét, vì vậy huyệt đào xong mà chưa kịp hạ quan tài thì nước vào ngập hết. Người ta kể là phu đào huyệt ngày trước còn phải đứng dồn lên quan tài cho nó chìm xuống. Có khi họ còn phải khoan nhiều lỗ trên mặt ván cho quan tài chìm. Người ta bảo nếu kẻ nằm trong đó còn đang thoi thóp thì cũng chết đuối luôn.
– Cứ như chuyện trong loại phim kinh dị.
– Có những cuốn sách viết rằng mùi xác chết thường quyện cả vào trong nước uống – Nói đến đây cô nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu – Tuy vậy về sau này có một đạo luật quy định tất cả các trường hợp mai táng đều phải đặt ở chỗ cao.
Họ đi bộ giữa những hàng mộ xây rất độc đáo. Nghĩa trang này không giống bất kỳ một nghĩa trang nào Peter đã từng trông thấy trước đây… Marsha khoát tay chỉ xung quanh:
– Đây chính là kết quả sau khi đạo luật đó được thông qua. Ở New Orleans người ta gọi những nơi như thế này là thành phố của người chết.
– Giờ thì tôi hiểu tại sao lại như vậy.
Anh nghĩ: Đúng như một thành phố. Những phố xá lô xô với những nấm mộ hình thù giống như những ngôi nhà nhỏ bằng gạch, trát bằng vữa stucô, vài ba ngôi nhà còn có bao lơn bằng sắt và lối đi hẹp. Có những nhà nhiều tầng hoặc lớp khác nhau. Đặc điểm duy nhất giống nhau là các ngôi nhà này đều không có cửa sổ, thay vào đó là rất nhiều lối đi nhỏ. Anh chỉ cho cô:
– Trông cứ như lối vào các căn hộ ấy.
– Đúng là các căn hộ chứ còn gì nữa. Mà đa số cho thuê ngắn hạn.
Anh tò mò nhìn cô. Marsha giải thích:
– Những ngôi mộ này được chia thành nhiều đoạn. Mộ của các gia đình bình thường có từ hai đến sáu đoạn, mộ của các gia đình lớn nhiều hơn. Mỗi đoạn có một cửa nhỏ riêng. Mỗi khi có một đám tang thì một cửa vào sẽ được mở trước. Quan tài bên trong được dọn sạch, người ta đâyy hài cốt ra phía sau, thông qua một khe hở, rơi ra ngoài mặt đất. Người ta đốt quan tài cũ, đặt quan tài mới vào.
Rồi lại để đấy trong một năm, sau đó lại làm những việc như vừa kể.
– Có một năm thôi ư?
Một giọng nói từ phía sau họ:
– Thường là như vậy. Đôi khi có thể lâu hơn, nếu như đám tang không xảy ra luôn. Lũ gián cũng giúp được khối việc.
Họ quay đầu lại. Một người đàn ông lớn tuổi, tròn xoay như thùng tô nô mặc quần áo lao động bằng vải chéo, lấm lem nhìn họ vui vẻ. Ông ta bỏ chiếc mũ rơm cũ ra, lấy một chiếc khăn lụa màu đỏ lau chiếc trán hói:
– Nóng nhỉ? Chỉ có trong này thì mới mát thôi. – ông lấy tay thân mật vỗ nhẹ lên nấm mồ. Peter nói – Nếu ông cảm lấy như vậy, tôi thích chịu đựng cái nóng hơn.
Người đàn ông kia cười:
– Cuối cùng anh cũng đến đây thôi. Kia chắc cô Preyscott.
– Chào bác Colody – Marsha nói – Đây là anh McDermott.
Người bõ già gật đầu thân mật:
– Cô đi thăm nơi yên nghĩ của dòng họ đấy à?
– Chắc cháu định như vậy – Marsha đáp.
– Đi theo tôi – ông lão ngoảnh đầu lại nói – Cách đây một hai tuần chúng tôi mới dọn dẹp lại. Bây giờ trông quang quẻ hẳn.
Họ bước len lỏi giữa những lối đi trông như những phố xá hẹp. Peter để ý đến những dòng ghi ngày tháng và tên tuổi từ xa xưa. Ông già chỉ vào đống tro tàn còn âm ỉ cháy ở một chỗ trống:
– Mới đốt một đống đằng kia kìa.
Peter thấy rõ cả những mảnh ván cháy dở giữa đám khói. Họ dừng lại trước một khu mộ có sáu đoạn, xây dựng hệt như một ngôi nhà Crêôl truyền thống. Nó được quét sơn trắng và sửa sang chu đáo hơn các khu mộ xung quanh. Trên phiến đá cẩm thạch dãi dầm phong sương in rõ nhiều cái tên, trong đó phần lớn mang họ Preyscott.
– Gia đình em là gia đình dòng dõi – Marsha nói – Số người đã trở thành tro bụi ở đây không phải là ít.
Ánh nắng chiếu lấp lánh trên khu mộ.
– Tinh tươm đấy chứ? – ông bõ đứng lại ngắm, vẻ mãn nguyện, sau đó chỉ vào một lối cửa gần phía đỉnh – Cánh cửa sắp tới đấy cô Preyscott ạ. Ba cô sẽ đi vào chỗ đó. Rồi ông chỉ một hốc nữa ở tầng thứ hai – Còn chỗ kia thì dành cho cô. Nhưng chẳng biết tôi có còn sống đến khi đưa cô vào đấy hay không – ông già dừng lại, rồi trầm ngâm tiếp – Cái chết đến với tất cả chúng ta nhanh hơn là ta mong muốn. Vậy chớ nên để thời gian uổng phí. Chớ nên! – ông già lại lau trán một lần nữa rồi lặng lẽ bước đi.
Peter rùng mình mặc dù trời đang nóng. Nghĩ đến việc một người còn trẻ như Marsha đã được dành một chỗ chôn cất, anh thấy rầu cả lòng.
– Không đến nỗi bi quan như thế đâu – Marsha chăm chú nhìn vào tận mắt Peter và một lần nữa anh thấy cô có tài đoán đúng ý nghĩ của anh – Dù sao chúng ta cũng được giáo dục để thấy rằng đây cũng là một bộ phận của đời sống chúng ta.
Anh gật đầu, nhận thấy tham quan nghĩa trang như vậy là quá đủ. Họ đang trên đường ra về, gần đến cổng phố Basin thì Marsha kéo tay anh lại.
Một dãy ôtô vừa đỗ lại ngay phía ngoài. Cửa xe mở, đám người bước ra và tập hợp lại trên vỉa hè. Qua bộ dạng của họ, người ta đoán ngay một đám tang sắp đi vào nghĩa địa.
Marsha thì thào:
– Anh Peter, ta phải đợi một lát – Hai người đứng nép sang một phía, lẩn vào bên trong cổng.
Lúc này nhóm người đứng trên vỉa hè tản ra, nhường lối cho một đám rước đi qua. Một người da mai mái, cung cách chủ nhà đòn tiến liên trước, theo sau là một ông cố đạo. Sau ông cố đạo, một nhóm sáu người phu đòn khiêng một cỗ quan tài nặng trên vai, bước đi chậm rãi. Đằng sau họ lại còn bốn người nữa, khiêng một cỗ quan tài nhỏ sơn trắng, mặt trên chỉ có một cành trúc đào.
– Chao ôi! – Marsha thốt lên.
Peter nắm chặt tay cô.
Viên cố đạo ngân nga:
– Cầu cho các thiên thần đưa hai con lên Thiên đường, cầu cho các thánh tử vì đạo đón các con trên đường và đưa các con lên nơi đất Chúa Jerusalem.
Đám người đưa tang bước theo sau chiếc quan tài thứ hai. Đầu tiên là một người đàn ông còn trẻ, đi trước một mình. Anh ta mặc một bộ quần áo đen không hợp với khổ người, tay cầm chiếc mũ lúng ta lúng túng. Đôi mắt anh ta dường như dán chặt vào chiếc quan tài nhỏ. Nước mắt đầm đìa trên đôi má. Trong đám người đi phía sau có một bà đã lớn tuổi đang khóc nức nở, được một người khác dìu bên cạnh.
…Cầu mong các thiên thần ra đón hai con cùng với Lasarus đã một thời nghèo khổ, cầu mong cho các con được yên nghỉ đời đời…
Marsha thì thào:
– Hai mẹ con bé gái này chết trong vụ đâm xe rồi bỏ chạy. Vụ này đăng đầy trên các báo – Anh nhận ra cô đang khóc – Tôi biết – Peter cảm thấy anh là người trong cuộc, cùng chia sẻ nỗi đau buồn. Nếu như ấn tượng khi chứng kiến sự kiện tối hôm thứ hai là lạnh lùng, thì lúc này cảm giác về tấn bi kịch kia hình như gần gũi, liên quan mật thiết với anh hơn. Anh trào nước mắt khi đám tang đi qua.
Sau thân quyến là bạn bè thân thuộc. Peter ngạc nhiên nhận ra gương mặt của một người. Thoạt đầu anh không thể xác định là ai, sau mới nhớ ra ông ta là Sol Natchez, ông già phục vụ phòng đã bị đình chỉ công tác từ sau vụ va chạm với ông bà Công tước Croydon tối thứ hai vừa qua. Sáng thứ ba, Peter đã cho gọi ông Natchez, truyền đạt quyết định của ông Trent, cho ông nghỉ nhưng vẫn được hưởng lương. Natchez nhìn sang chỗ Peter và Marsha đang đứng, song ông ta không lộ ra vẻ gì là đã nhận ra anh.
Đám rước vào khuất trong nghĩa trang. Đợi đến lúc tất cả mọi người đi theo vào trong đó, Marsha nói:
– Ta về chứ.
Bất ngờ một bàn tay chạm vào cánh tay Peter. Anh quay lại. Sol Natchez. Vậy ra ông ta để ý thấy họ từ lúc nãy – Tôi trông thấy ông đứng đây, ông McDermott ạ. Ông cũng quen gia đình này sao?
– Không – Peter đáp – Chúng tôi chỉ tình cờ có mặt tại đây thôi – Nói rồi anh giới thiệu Marsha với ông ta.
Cô hỏi:
– Bác có đợi buổi lễ kết thúc hay không?
Ông già lắc đầu:
– Đôi khi tôi cảm thấy không đủ sức chứng kiến trọn vẹn một buổi tang lễ.
– Bác quen gia đình này?
– Quen thân là đằng khác. Thật là một bất hạnh lớn quá đỗi.
Peter gật đầu. Dường như không còn gì để nói thêm được nữa.
Natchez tiếp:
– Ông McDermott ạ, hôm thứ ba vừa rồi tôi không có ý kiến gì, song thật ra tôi rất quý những việc ông đã làm cho tôi. Ý tôi muốn nói là ông đã giúp tôi.
– Bác Sol ạ, mọi chuyện tốt đẹp cả. Tôi biết bác không hề có lỗi.
– Càng nghĩ tôi càng thấy có điều gì đó khác thường – ông già hết nhìn Marsha lại nhìn Peter. Hình như ông ta còn dùng dằng chưa muốn ra về.
– Chuyện gì khác thường? – Peter hỏi.
– Chuyện tai nạn này ấy mà – ông Natchez giơ tay chỉ về phía đám tang vừa đi – Vụ này chắc đã xảy ra ngay trước lúc tôi gặp chuyện rắc rối kia một lát, vào tối hôm thứ hai. Ông có nhớ không, lúc tôi với ông đang nói chuyện…
– Phải – Peter nói. Anh không muốn bộc lộ những suy nghĩ của bản thân lúc anh chứng kiến cảnh ở chỗ xảy ra tai nạn.
– Ông McDermott ạ, tôi định hỏi ông xem sau vụ va chạm với ông bà Công tước tối hôm đó, người ta có phàn nàn gì thêm không?
– Không, không có gì thêm.
Peter cho rằng ông Natchez nói lảng ra chuyện khác như vậy để khuây khỏa ấn tượng của đám tang đè nặng.
Người bồi già tư lự:
– Sau đó tôi cứ nghĩ mãi về chuyện này. Tôi thấy hình như họ cố tình gây chuyện tùm lum như thế vì lý do gì đó. Tôi nghĩ mãi mà đến nay vẫn chưa nghĩ ra được.
Peter nhớ là ông Natchez cũng đã nhận định như vậy vào tối thứ hai. Những lời nói chính xác của ông lại hiện ra trong anh. Lúc đó ông Natchez nới về bà Công tước: Bà ấy thúc vào tay tôi. Giá như tôi có gọi đây là một việc làm cố tình thì cũng không ngoa đâu. Rồi sau đó Peter có một ấn tượng giống như thế, tức là bà Công tước muốn rằng anh phải nhớ kỹ sự cố ấy. Bà ta nói sao nhỉ? Đại khái bảo rằng họ đã ngồi yên lặng trong phòng hồi lâu, sau đó đi bộ quanh tòa nhà. Bà ấy bảo rằng họ vừa mới về đến phòng.
Anh nhớ lại lúc đó anh lấy làm lạ tại sao bà ta lại nhắc đến điều đó làm gì.
Sau đó ông Công tước Croydon lầu bầu về chuyện bỏ quên thuốc lá trên xe hơi và bị bà vợ cự lại.
Ông Công tước đã bỏ quên thuốc lá trong xe hơi.
Thế nhưng nếu đúng là hai vợ chồng Croydon đã ở trong phòng, sau đó chỉ có đi dạo quanh khu nhà một vòng…
Đương nhiên, họ có thể bỏ quên thuốc lá cũng ngày hôm đó nhưng từ lúc trước.
Song Peter không nghĩ như vậy.
Anh quên mất hai người đang đứng cùng anh và tiếp tục tập trung suy nghĩ.
Tại sao hai vợ chồng Croydon lại muốn giấu việc họ đã sử dụng xe hơi của họ trong buổi tối thứ hai đó? Tại sao họ lại tạo ra cái vẻ, đúng là cái vẻ, họ đã ngồi trong khách sạn tối hôm đó? Phải chăng vụ rầy la về việc bồi đánh đổ món tôm Créol lên người chỉ là cái cớ, cái cớ cố tình lôi Natchez sau đó là Peter dính dáng vào với dụng ý buộc mọi người tin vào câu chuyện họ dựng ra? Nếu như không có lời nhận định tình cờ của ông Công tước, mà lời nhận định này đã làm cho bà vợ nổi đóa, thì có lẽ Peter đã tin rằng câu chuyện đó là có thực rồi.
Tại sao họ phải giàu giếm việc họ dùng xe hơi?
Vừa rồi ông Natchez có nói: Có điều gì đó khác thường… tai nạn ấy… chắc chắn đã xảy ra trước lúc tôi gặp chuyện rắc rối kia một lát.
Vợ chồng Croydon có chiếc xe nhãn hiệu Jaguar.
Ogylvie.
Anh bỗng nhớ lại cảnh chiếc xe Jaguar chạy khỏi ga ra đêm hôm qua. Khi xe dừng lại trong giây lát dưới ánh đèn, anh thấy có cái gì đó là lạ. Anh nhớ anh có để ý quan sát.
Nhưng là cái gì nhỉ? Anh bình thản nhớ lại: phải rồi, đó là cái chắn bùn và đèn mũi xe. Cả hai cái đều bị hư hại. Lần đầu tiên những bản tin cảnh sát đưa ra trong mấy ngày vừa qua đã gây cho anh một ấn tượng sâu sắc.
– Peter – Marsha gọi – Mặt anh sao tái nhợt thế kia?
Anh hầu như chẳng nghe thấy gì.
Anh cần phải về ngay, tìm một chỗ nào yên tĩnh, chỉ có một mình để suy nghĩ kỹ càng. Anh phải cân nhắc sao cho thận trọng, hợp lý, không bộp chộp. Trước hết không được có những kết luận nóng vội, định kiến.
Ở đây có nhiều sự kiện khó xử. Bề ngoài mà xét thì chúng dường như có liên quan với nhau. Thế nhưng anh phải lật đi lật lại vấn đề. Có khi còn phải vứt bỏ hết.
Không thể nghĩ đến khả năng đó. Kỳ lạ quá, khó có thể tin là đúng như vậy được. Nhưng có điều…
Anh nghe tiếng Marsha như từ một nơi xa xăm vẳng lại:
– Kìa anh Peter, có chuyện gì vậy anh?
Cả ông Sol Natchez cũng đang nhìn anh một cách lạ lùng.
– Marsha ạ – Peter nói – Bây giờ anh chưa thể cho em biết được. Anh phải về đây.
– Về đâu?
– Về ngay khách sạn. Xin lỗi em nhé. Anh sẽ giải thích cho em hiểu sau.
Giọng cô đầy vẻ thất vọng:
– Em đã dự định chúng ta về uống chè.
– Em hãy tin anh. Đây là một việc quan trọng.
– Nếu cần, em đưa anh về.
– Khỏi – Ngồi xe với Marsha anh sẽ phải chuyện trò, giải thích – Thôi, anh sẽ gọi điện thoại cho em sau.
Anh bỏ đi, mặc Marsha và ông Sol đứng đấy, sững sờ bối rối nhìn theo.
Anh vẫy một chiếc tắc xi đang chạy qua trên phố Basin. Vừa mới bảo với Marsha về khách sạn, nhưng bây giờ anh thay đổi ý kiến, trao cho lái xe địa chỉ nhà.
Về nhà yên tĩnh hơn, có điều kiện suy nghĩ và sẽ quyết định cần phải hành động như thế nào.
Gần đến xế chiều Peter mới tổng kết mọi suy nghĩ của mình.
Anh tự nhủ: Một khi người ta suy nghĩ chuyện gì đến hai mươi, ba mươi, rồi bốn mươi lần, và lần nào cũng đi tới một kết luận giống lần nào, một khi vấn đề có tầm quan trọng như vấn đề đang được đặt ra cho anh lúc này, thì rõ ràng anh không thể trốn tránh trách nhiệm được.
Từ lúc chia tay với Marsha, anh ở miết trong phòng mình chừng một tiếng rưỡi đồng hồ. Anh cố nén mọi tình cảm kích động, nôn nóng để suy nghĩ cho hợp lý, bình tĩnh và thận trọng. Anh nhớ lại từng chi tiết một những sự kiện anh đã thu thập được từ đêm thứ hai đó. Anh cố đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau, cả cho từng sự kiện riêng lẻ lẫn cho toàn bộ các sự kiện gộp lại. Anh không tìm thấy một cách giải thích nào đủ hợp lý và nhất quán như cái kết luận ghê gớm mà anh đã đột nhiên nghĩ đến hồi chiều.
Giai đoạn phân tích đã qua. Bây giờ anh cần phải đi đến kết luận.
Anh nghĩ đến việc trình bày với ông Warren Trentvề mọi sự kiện anh đã biết và ức đoán của anh. Sau đó anh gạt bỏ ngay ý nghĩ đó, vì như vậy anh ta mình hèn nhát không dám một mình nhận trách nhiệm. Muốn gì thì gì, anh cũng phải làm việc này một mình.
Khi cảm thấy mọi sự việc khớp với nhau rồi, anh thay nhanh bộ quần áo màu sáng để mặc bộ màu sẫm. Sau đó rời nhà, anh đi tắc xi sang khách sạn cách đó mấy khối nhà. Anh đi bộ từ sảnh lên văn phòng của mình trên gác lửng, gật đầu chào lại mọi người. Flore đã ra về sau một ngày làm việc. Trên bàn viết của anh một chồng tin nhắn, nhưng anh không thèm ngó tới.
Anh ngồi lặng đi một lúc trong căn phòng yên tĩnh, cân nhắc xem cần phải làm gì bây giờ. Sau đó anh nhấc ống nói, đợi thông dây, quay số cho sở cảnh sát thành phố.
