Sau khi cơn sóng đấu thầu cây cầu vượt qua sông lắng xuống, vị trí của Chu Văn Hải tại Giang Thành trở nên vô cùng vi tế. Anh vẫn là ông lão sống trong khu tập thể cũ, xách túi vải đi chợ mỗi ngày. Nhưng trong mắt một số người, chiếc điện thoại đỏ trong văn phòng của anh giờ đã biến thành một thanh kiếm treo lơ lửng trên đầu thành phố — không ai biết nó sẽ rơi xuống lúc nào.
Người kính sợ anh ngày càng nhiều, kẻ muốn tiếp cận anh cũng nhiều không kém. Nhưng chẳng bao lâu, họ đều phát hiện: Vị giám sát viên Chu này — nước đổ đầu vịt, dẻo cứng đều vô dụng.
Tất cả những lời mời dự tiệc, uống trà với danh nghĩa này nọ, đều bị anh từ chối nhẹ nhàng: “Tôi già rồi, dạ dày không tốt.”
Tất cả đặc sản, quà bổ mang tới đều bị trả lại y nguyên. Lâu dần, mọi người cũng nản, hiểu rằng ông này là nhảy ra từ kẽ đá, chẳng có kẽ hở nào để chui vào.
Cho đến một ngày, một cú điện thoại gọi đến tận nhà chúng tôi. Người gọi xưng là Trần Lập Phong, bạn học cấp ba của Chu Văn Hải. Chu Văn Hải nghe điện xong, ngẩn người rất lâu, mới lục lại được cái tên ấy trong trí nhớ.
Trần Lập Phong — kẻ nghịch ngợm nhất lớp năm xưa, sau này là một trong những người đầu tiên đi buôn, nghe đâu lập nghiệp ở phương Nam rất thành công, là người giàu nhất trong đám bạn học cũ.
“Lão Chu! Cậu đúng là ghê gớm! Im hơi lặng tiếng mà làm nên chuyện kinh thiên động địa!” Trần Lập Phong trong điện thoại đầy nhiệt tình và thân thiết như gặp lại tri kỷ. “Tôi từ lâu đã ngứa mắt lũ Lý Kiến Quốc rồi! Lần này cậu đúng là trừ hại cho dân! Không được không được, lần này về Giang Thành, kiểu gì tôi cũng phải mời cậu một bữa, rửa bụi cho anh hùng!”
Sự nhiệt tình của anh ta khiến người khác khó lòng từ chối. Chu Văn Hải thoái thác vài lần, nhưng Trần Lập Phong lại nói: “Cậu mà không đến, tức là coi thường bạn học cũ như tôi rồi.”
Cuối cùng, Chu Văn Hải đành đồng ý. Ðịa điểm chọn là một trà lâu tao nhã ven sông. Trần Lập Phong bao trọn một phòng riêng nhìn ra sông, không mời ai khác, chỉ có hai người họ.
Tôi tiễn Chu Văn Hải tới nơi, Trần Lập Phong đã chờ sẵn ngoài cửa. Anh ta bảo dưỡng tốt, nhìn còn trẻ hơn Chu Văn Hải cả chục tuổi, mặc bộ đồ hiệu cắt may chỉnh chu, tay đeo chiếc đồng hồ vàng to đùng.
Thấy chúng tôi, anh ta lập tức tiến tới, nắm chặt tay Chu Văn Hải: “Lão Chu, hơn hai mươi năm rồi mà cậu chẳng thay đổi gì, vẫn giản dị như xưa.” Anh ta quay sang tôi, cười nói: “Ðây chắc là chị dâu nhỉ? Quả thật hiền thục, chăm sóc lão Chu nhà chúng tôi thật tốt.”
Anh ta nói năng rất có duyên, khéo léo vừa phải – không nịnh bợ, nhưng vẫn khiến người khác cảm thấy thân thiết. Tôi dặn dò vài câu rồi về trước.
Tối đó, Chu Văn Hải về rất muộn. Vừa bước vào cửa, tôi đã ngửi thấy mùi trà Long Tỉnh hảo hạng thoang thoảng. Nhưng nét mặt anh không hề thư thái.
“Có chuyện gì sao?” Tôi hỏi.
“Không có gì.” Anh thay giày, ngồi xuống ghế sô pha, tự rót ly nước lọc. Anh nhìn làn hơi nước bốc lên từ ly, im lặng rất lâu mới nói: “Hôm nay, bọn anh nói chuyện rất nhiều – chuyện quá khứ, chuyện thời cấp ba, chuyện đi vùng kinh tế mới, chuyện giấc mơ thuở thiếu thời. Anh ấy bảo, rất ngưỡng mộ anh, vì anh giữ được cái tâm ban đầu, cả đời không đổi. Anh ấy nói, mình lang bạt bên ngoài nhiều năm, nhiều lúc bất đắc dĩ, tuy kiếm được tiền, nhưng lòng vẫn trống rỗng. Giờ, tâm nguyện lớn nhất của anh ấy là ‘lá rụng về cộiʼ, muốn góp chút sức cho quê hương.”
Tôi nghe xong, thấy cũng không có gì lạ.
“Anh ấy muốn đầu tư vào dự án phát triển phía tây Giang Thành.” Chu Văn Hải đột nhiên nói.
Tim tôi thắt lại. Sự việc cầu vượt mới qua, giờ dự án lớn nhất Giang Thành chính là khu mới phía tây.
“Anh ấy muốn… anh giúp ‘xem xét giúp một chútʼ.” giọng Chu Văn Hải nhẹ hẫng. “Anh ấy nói, không tin ai khác ngoài nhân cách của anh. Anh ấy sợ bị lừa, bị hại, muốn người bạn học cũ như anh hỗ trợ về chính sách và quy trình. Còn đưa cái này.”
Chu Văn Hải lấy từ túi ra một hộp nhung nặng tay. Mở ra — bên trong là chiếc đồng hồ vàng giống y như chiếc Trần Lập Phong đeo. “Anh ấy bảo, không phải hối lộ. Chỉ là tấm lòng của bạn học cũ, kính tặng ‘người đàn ông cứng cỏiʼ như anh.”
Tôi nhìn chiếc đồng hồ lấp lánh dưới ánh đèn, thấy nhức mắt. Trên đời này, điều khó chống lại nhất không phải là tiền bạc trắng trợn, mà là sự tha hóa bọc trong lớp vỏ tình cảm.
“Vậy… anh nói sao?” Tôi căng thẳng hỏi.
Chu Văn Hải cầm ly nước lọc, nhấp một ngụm. “Anh bảo với anh ta, cái ly tráng men của anh dùng hai mươi năm, tuy cũ nhưng rất sạch. Chỉ đựng nước trắng, đựng trà thanh. Không đựng nổi loại ‘trà ngon có phụ giaʼ. Anh cũng bảo, tình bạn học, uống xong ly trà ở trà lâu là xong. Bước ra khỏi cửa đó, anh là Chu Văn Hải — giám sát viên đặc biệt của Giang Thành. Anh ta là Trần Lập Phong — thương nhân đầu tư vào Giang Thành. Công việc, chỉ có thể xử lý công bằng.”
Anh khép hộp nhung lại, đặt nhẹ lên bàn trà. “Ngày mai, anh sẽ nhờ bảo vệ thư viện gửi trả lại cho anh ta, nguyên vẹn như cũ.”
Tôi thở phào nhẹ nhõm.
Chu Văn Hải nhìn tôi, mỉm cười. “Sao? Sợ anh cuối đời lại bị vấy bẩn à?”
“Em chỉ thấy, bây giờ… anh còn khó hơn trước kia.” Tôi nói.
Kẻ thù khi xưa là dao kiếm lộ thiên. Kẻ thù bây giờ, lại có thể là bạn cũ tươi cười, là thuốc độc bọc trong kẹo ngọt.
Chu Văn Hải đứng dậy, đi tới bàn viết, trải giấy tuyên, chấm mực. “Ðường khó đi, mới là đường lên dốc.” Vừa nói, anh vừa viết lên giấy bốn chữ to: [Ðại đạo vô tình.]
(Con đường chính đạo – không thiên vị tình riêng.)
