Ngay sau khi Curtis O’Keef và Dodo được tháp tùng lên hai cụm phòng của họ, Julius Milne “Trùm Khóa” nhận một phòng cá nhân.
Lúc 10 giờ 45 phút sáng “Trùm Khóa” đã dùng điện thoại trực tiếp của khách sạn gọi từ phi trường Moizont về (Tại những nơi đẹp nhất ở New York bạn có thể gọi cho chúng tôi, không phải trả tiền) để khẳng định việc dành chỗ trước cách đây vài ngày mà y đã báo từ bên ngoài thành phố. Đáp lại, người ta cho y biết là đã dành phòng cho y và nếu khẩn trương đến thành phố, y sẽ được bố trí chỗ ở ngay lập tức.
Việc y quyết định trọ ở St. Gregory mới xảy ra cách đây có vài ba phút, cho nên Trùm Khóa lấy làm hài lòng trước cái tin này mặc dù y cũng không ngạc nhiên là những kế hoạch dự định được hình thành bắt đầu bằng việc dành chỗ trước ở tất cả các khách sạn chính ở New Orleans và với mỗi nơi y dùng một tên khác. Ở St. Gregory y đã ghi tên “Byron Meader”. Y đã nhặt được cái tên này trên một tờ báo bởi người chủ hợp pháp của nó là một anh chàng mới được bạc rất to. Có lẽ đây là một điềm may mắn, mà điềm may đối với Trùm Khóa là hết sức có ý nghĩa.
Trên thực tế đã có một số trường hợp hình như điềm may cũng ứng nghiệm. Chẳng hạn lần gần đây nhất y đã phải ra tòa, ngay sau khi y xin tòa khoan hồng, thì một tia nắng chiếu xiên ngang ghế của quan tòa và bản án tiếp sau đó, lúc ánh nắng vẫn còn, là một hình phạt rộng lượng, chỉ có ba năm tù mà Trùm Khóa tưởng là phải năm năm kia. Thậm chí ngay cả những sự việc xẩy ra trước khi xin ân xá và phán quyết xem ra diễn tiến trôi chảy cũng vì lý do như vậy.
Cái đêm hôm y đột nhập vào mấy phòng khác nhau của một khách sạn ở Detroit đã diễn ra êm ru và kết quả, chủ yếu như sau này y xác định là bởi vì tất cả các căn phòng đó, trừ phòng cuối cùng, đều mang con số hai là con số hên đối với y. Chỉ đến cái phòng cuối cùng, không có con số bảo đảm kia, người chủ phòng mới thức giấc kêu ré lên đúng vào lúc y đang nhét chiếc áo lông chồn vizon vào một chiếc vali, sau khi đã đút tiền và đồ nữ trang của mụ ta vào trong một chiếc túi áo khoác rộng ngoại cỡ.
Thật hết sức xúi quẩy, có lẽ là tại con số gây nên, một thằng thám tử của khách sạn nghe rõ tiếng kêu đã phản ứng tức thì. Trùm Khóa, vốn là một người hay triết lý, đã phải nhã nhặn chấp nhận cái điều không tránh khỏi đó và cũng không bận tâm đến việc vận dụng lối giải thích ngây thơ, mà trong nhiều lần khác y đưa ra cũng đã có kết quả, rằng vì sao y lại có mặt ở buồng không phải của mình. Đó là một việc làm mạo hiểm mà bất kỳ thằng nào trong giới sống dựa vào nghề xoáy phải giở ra, kể cả những tay bám tài ba như Trùm Khóa. Sau khi mãn hạn tù (cũng có được giảm án đến mức tối đa vì hạnh kiểm tốt) y lại làm một chuyện khua khoắng thành công trong vòng mười ngày tại thành phố Kansas, y say sưa dự kiến sẽ dừng lại chừng nửa tháng rồi làm một đợt rôm rả tại New Orleans.
Khởi đầu như thế là tốt.
Y đã lái xe từ một motel rẻ tiền trên xa lộ Chef Menteur, nơi y dừng chân đêm trước, đến phi trường Moisant trước lúc 7 giờ 30 một phút. Đây là một công trình kiến trúc sân bay rất hiện đại và đẹp. Trùm Khóa nghĩ thầm. Có nhiều kính thủy tinh và crôm cũng như nhiều thùng rác, và đó chính là điều quan trọng khiến y có mặt tại đấy. Y đọc tấm bảng, được biết sân bay này mang tên ông Moisant, người quê ở Orleans, đã từng là một nhà tiên phong trong ngành hàng không thế giới. Và y nhận thấy hai chữ đầu tên ông ta cũng giống như tên của y, phải chăng đó là một điềm thuận? Đây là loại sân bay mà y sẽ lấy làm tự hào được chen vai thích cánh lên một chiếc phản lực cỡ bự. Và điều ấy có lẽ sẽ chẳng còn bao lâu nữa nếu tình hình cứ tiếp tục diễn ra như hồi đó, trước khi cái chuyện xúi quẩy đã loại y khỏi vòng chiến một thời gian.
Mặc dù y sẽ khôi phục nhanh thôi nhưng hiện nay đôi lúc y thấy ngần ngại trước những việc mà trước đây y đã hành động bình tĩnh, hầu như thản nhiên là khác.
Nhưng điều đó dĩ nhiên thôi. Bởi lẽ y biết rằng nếu bị tóm cổ và bị tống trở lại nhà tù thì lần nay sẽ từ mười đến mười lăm năm tù. Chịu đựng đâu có dễ gì. Đã năm mươi hai tuổi đầu rồi, đời người còn được mấy nỗi.
Y bước đi kín đáo qua nhà ga. Với phục trang chỉnh tề, chải chuốt, cắp bên tay một tờ báo gập nhỏ, Trùm Khóa tỏ ra rất cảnh giác, y tạo ra bộ dạng của một nhà kinh doanh giàu có vẻ thoải mái và tự tin. Chỉ có đôi mắt y là đảo điên liên tục, theo dõi cử động của những hành khách đến sớm nhất mà các xe hòm và tắc xi đưa họ từ những khách sạn trung tâm thành phố ra sân bay. Đây là đợt đầu tiên bay lên phía Bắc trong ngày hôm nấy, và đợt đông nhất bởi các hãng United, National, Eastern và Delta, hãng nào cũng có những chuyến bay phản lực buổi sáng đến New York, Washington, Chicago, Miami và Los Angeles.
Đã hai lần y trông thấy dấu hiệu bắt đầu của cái điều y đang trông tìm. Song nó chỉ là sự bắt đầu thôi, và không hơn. Có hai người đã thọc tay vào túi để tìm vé hoặc tiền lẻ phát hiện là họ đã mang nhầm theo cả chìa khóa phòng khách sạn. Người đầu tiên sửa chữa sai lầm bằng cách tìm một hòm thư và gửi trả cuống chìa bằng plastic của nó.
Còn người kia thì trao chìa khóa cho một nhân viên hàng không. Anh này đặt nó vào trong một ngăn kéo đựng những vật nhặt được, có thể đoán chắc là để trả lại cho khách sạn.
Cả hai vụ trên thật đáng buồn, nhưng kinh nghiệm đã dạy cho y không nên nản lòng. Trùm Khóa tiếp tục quan sát: Y là một người kiên trì có hạng. Ngay sau đó, y biết điều y đang chờ đợi sẽ tới.
Mười phút sau nỗi phấp phỏng của y được đền bù.
Một người đàn ông đầu bắt đầu hói, mặt đỏ ửng, cắp một chiếc áo khoác, túi du lịch căng phồng và một chiếc máy ảnh, dừng lại chọn mua một tờ tạp chí trên đường tới lối ra máy bay. Tại quầy bán báo ông bỗng phát hiện chiếc chìa khóa khách sạn, ông ta thốt lên một tiếng bực dọc.
Người vợ, một phụ nữ mảnh khảnh, hòa nhã, nhỏ nhẹ đưa ra một ý kiến nhưng bị ông chồng gạt phát ngay:
– Không còn đủ thời gian! – Trùm Khóa nghe lỏm câu chuyện, bám sát ngay theo họ. – Thôi được! Khi họ đi ngang qua một thùng rác, người chồng đã ném tọt chiếc chìa khóa vào đó.
Đối với Trùm Khóa, những việc còn lại được tiến hành theo lệ thường. Y đi ngang qua thùng rác, ném tờ báo gập nhỏ của y vào thùng, sau đó làm ra bộ bất ngờ thay đổi ý kiến, y quay lại, nhặt nó ra. Cùng lúc đó, y nhìn xuống, quan sát tìm kiếm chiếc chìa vừa bị vứt đi, rồi kín đáo kẹp nó trong lòng bàn tay, vài phút sau, khi có một mình trong buồng vệ sinh nam, y đọc thấy hàng chữ ghi phòng số 641 Khách sạn St. Gregory.
Nửa giờ sau, trong một tình hình như thường xảy ra là một khi vận may đã bắt đầu thì một việc tương tự cũng sẽ kết thúc thành công như trên đây. Chiếc chìa khóa thứ hai cũng là của St. Gregory, điều thuận lợi này gợi cho Trùm Khóa phôn ngay tức thì cho khách sạn đó, khẳng định việc đặt thuê phòng từ hôm trước. Y quyết định không nên tiếp tục thử vận may của y bằng cách la cà nhà ga thêm nữa làm gì. Y mở đầu như vậy là thuận lợi rồi – tối nay y sẽ rà soát lại ga xe lửa – sau đó vài ba ngày y có thể quay lại sân bay này một lần nữa. Còn nhiều cách khác để lấy chìa khóa khách sạn, trong số đó có một cách đã được y lôi ra vận dụng tối hôm qua.
Không phải vô cớ mà một ủy viên công tố cách đây nhiều năm đã nhận định trước tòa là: “Thưa quý tòa, tất cả những gì mà con người này dính líu vào chẳng qua là một vụ án chìa khóa. Thành thực mà nói, tôi đã có ý nghĩ hắn ta là Trùm Khóa Milne”.
Nhận xét này đã được ghi lại trong hồ sơ sở cảnh sát và cái tên đã đọng lại đến nỗi chính Trùm Khóa cũng dùng nó với một niềm tự hào nhất định. Đó là niềm tự hào được hun đúc bởi một nhận thức dày dạn là thời gian, sự kiên trì và vận may, cơ hội có được một chiếc chìa khóa để mở hầu như mọi thứ là hết sức tốt. Cái mẹo độc đáo có một không hai của y hiện nay là dựa vào sự thờ ơ của khách đối với chìa khóa của khách sạn, một sự thờ ơ mà Trùm Khóa đã biết từ lâu rằng sẽ còn là một nỗi thất vọng thường xuyên của các ông chủ khách sạn bất kỳ ở đâu.
Trên lý thuyết mà xét, khi một người khách sắp ra đi, đến bàn thanh toán hóa đơn, người ta cho rằng anh ta sẽ để lại chìa khóa. Nhưng có biết bao nhiêu người khách rời khách sạn mà chìa khóa phòng vẫn bỏ quên trong túi hoặc trong ví. Những khách có lương tâm cuối cùng sẽ bỏ chìa khóa vào thùng thư, và một khách sạn loại lớn như St. Gregory đều đặn hàng tuần phải thanh toán năm mươi đô la hoặc hơn nữa cho bưu điện về khoản chìa khóa được trả lại, song vẫn có những người khách tiếp tục giữ chìa khóa hoặc quẳng nó đi một cách hững hờ.
Nhóm người sau đã tạo điều kiện cho các đạo chích chuyên nghiệp tại khách sạn như Trùm Khóa có công ăn việc làm thường xuyên.
Từ nhà ga sân bay, Trùm Khóa quay trở lại bãi đỗ xe với chiếc ô tô Ford mui kín đã dùng năm năm mà y mua ở Detroit và lần đầu tiên lại đến thành phố Kansas, sau đó đến New Orleans. Với Trùm Khóa, nó thật là một chiếc xe kín đáo đến mức lý tưởng. Xe sơn màu xám đục, và cũng không cũ quá hoặc mới quá khiến người ta dễ để ý hoặc ghi nhớ. Chỉ có mỗi một điều khiến y băn khoăn đôi chút là tấm biển đăng ký của Michigan chữ xanh hấp dẫn trên nến trắng. Những biển số của các tiểu bang khác không phải là hiện tượng khác thường gì ở New Orleans, song cái nét đặc biệt nhỏ bé này thực ra lại là điều y chẳng mong muốn tí nào. Y đã định dùng biển giả của bang Louisiana, song việc đó xem ra còn mạo hiểm hơn, vả lại, Trùm Khóa vốn rất thận trọng không thích đi quá xa sang những khu vực không thuộc phạm vi chuyên môn của y.
Vừa chạm đến công tắc, động cơ ô tô đã khởi động ngon lành, kêu ro ro, đó là kết quả của một đợt đại tu do chính tay y thực hiện. Nghề này y học được do tiến nhà nước liên bang đài thọ trong một đợt y bị quản thúc.
Y lái xe mười bốn dặm vào thành phố, chú ý hạn chế tốc độ, sau đó hướng về phía St. Gregory mà y đã xác định vị trí và thăm dò từ hôm trước. Y đỗ xe gần phố Canal, cách khách sạn vài khối nhà, lấy ra hai chiếc vali. Những hành lý còn lại y vẫn để ở phòng của motel. Y đã trả trước tiền thuê phòng vài ba ngày. Kể ra giữ thêm một phòng nữa cũng tốn kém nhưng là một cách khôn ngoan. Môtel sẽ là chỗ để y giấu những của cải y kiếm được và nếu khi gặp tai họa gì, y có thể rút hoàn toàn về đó. Y đã thận trọng không để lại một thứ gì khiến người ta có thể nhận ra được tung tích của y. Chìa khóa môtel được giấu kín trong bộ phận lọc khí của cacbuaratơ trong chiếc xe Ford.
Y bước vào St. Gregory với vẻ tự tin, giơ hai chiếc túi ra cho người gác cửa xem xét, và đăng ký vào khách sạn dưới cái tên B. W. Meader tỉnh Ann Arbor, Michigan.
Người nhân viên xếp phòng với ý thức cho rằng những người có chức quyền thường ăn vận quần áo may khéo và nét mặt cương nghị như tạc, nên đối xử với ông khách mới này rất kính cẩn và xếp cho phòng 830. Bây giờ, Trùm Khóa thú vị nhủ thầm, y đã có ba chiếc chìa khóa của khách sạn St. Gregory. Khách sạn chỉ biết về một chiếc, còn hai chiếc kia thì không.
Phòng 830, mà người trực tầng dẫn y tới sau đó vài phút, xem ra rất lý tưởng. Đó là một phòng rộng rãi, đầy đủ tiện nghi và chiếc cầu thang cho nhân viên chỉ ở cách đó mấy thước, Trùm Khóa nhận nó ra điều đó khi họ bước vào phòng.
Khi y còn lại một mình, y cẩn thận dỡ đồ ra. Sau đó y quyết định phải ngủ một giấc cho đẫy, chuẩn bị hành sự trong cái đêm quan trọng sắp đến.
