Ông Warren Trent tự đặt ra cho mình hai nhiệm vụ, mà cả hai đều không dễ chấp nhận.
Việc đầu tiên là gặp Tom Earlshore để xác minh lời buộc tội của Curtis O’Keef về ông ta tối hôm trước. “Hắn đang bòn rút của ông đấy” – O’Keef tố cáo người phụ trách quầy rượu đứng tuổi kia như vậy. Và: ” – Qua cung cách làm ăn thì tình trạng này đã kéo dài từ lâu rồi”.
Như đã hứa, O’Keef cung cấp tài liệu cho cáo trạng này. Ngay sau mười giờ sáng, một chàng trai tự giới thiệu là Sean Hall của công ty khách sạn O’Keef đã đến trao cho ông Warren Trent một bản báo cáo với đầy đủ chi tiết ngày giờ những việc họ đã quan sát được. Chàng thanh niên lên thẳng phòng của Warren Trent ở tầng mười lăm, có vẻ lúng túng, ông chủ khách sạn cảm ơn anh ta, rồi ngồi xuống đọc bản báo cáo dầy bảy trang.
Ông bắt đầu hầm hầm bực tức, càng đọc càng thêm bực. Trong bản tin mà kẻ điều tra đã tìm được bên cạnh tên của Tom Earlshore, còn có tên của nhiều nhân viên khác mà ông coi là đáng tin cậy. Warren Trent cảm thấy đau lòng khi ông bị chính những người đàn ông và đàn bà bấy lâu nay ông vẫn đặt nhiều tin tưởng nhất lại đang lường gạt ông. Trong đó có cả những kẻ như Tom Earlshore, được ông coi như một người bạn tâm phúc. Như vậy rõ ràng khắp mọi nơi trong khách sạn tình trạng tham ô chắc còn phổ biến hơn nhiều so với những tài liệu đưa ra đây.
Ông gập cẩn thận những tờ giấy đánh máy lại, bỏ vào túi trong áo vét. Ông nghĩ, nếu như ông tự cho phép, ông có thể nổi xung, lật tẩy và trừng phạt bọn người đã bội tín với ông, lần lượt từng tên một. Thậm chí làm như vậy có thể đạt được sự thỏa mãn trong buồn nản.
Thế nhưng ngày nay, cái thứ tình cảm bực tức cáu kỉnh quá mức cũng đã khô kiệt ở ông. Ông quyết định chỉ đối chất với một mình Tom Earlshore mà thôi, ngoài ra không đếm xỉa đến một ai khác.
Tuy nhiên Warren Trent nghĩ, bản báo cáo cũng mang lại một hiệu quả có ích. Nó cũng cất cho ông một gánh nặng trách nhiệm.
Cho đến đêm hôm qua ông suy nghĩ lao lung rằng số phận của St. Gregory là tùy thuộc vào lòng trung thành mà ông phải chịu ơn các nhân viên khách sạn của ông. Thế nhưng bây giờ, do đã phát hiện ra họ chẳng hề trung thành gì với ông, ông được giải phóng khỏi sự ràng buộc đó.
Kết quả này đã mở ra cho ông một khả năng mà trước đây ông lảng tránh, đó là khả năng giành lại quyền điều khiển khách sạn. Thậm chí lúc này triển vọng đó cũng không lấy gì làm thú vị, nhưng ông vẫn chọn cái việc ít khó chịu hơn trong số hai việc để thực hiện trước. Và thế ông gặp Tom Earlshore trước nhất.
Phòng ngồi uống rượu Pontalbơ nằm ở tầng trệt của khách sạn, từ sảnh đi vào qua hai cửa xoay làm bằng da và đồng thau. Bên trong, bậc tam cấp có trải thảm dẫn vàn một khu hình chữ L có đặt nhiều bàn và buồng nhỏ với những chiếc ghế nệm êm ái.
Không giống như đa số các phong cốc tai khác, phòng Pontalbơ được chiếu sáng rực rỡ. Như vậy khách uống có thể quan sát nhau, cũng như nhìn thấy quầy bar rõ ràng.
Chiếc quầy chạy dài qua cả chỗ nối của chữ L. Phía trước bar là sáu chiếc ghế đẩu có đệm dành cho những người đến uống lẻ, và nếu thích họ có thể xoay ghế quay nhìn mọi cảnh xung quanh.
Lúc ông Warren Trent từ sảnh bước vào phòng rượu là mười một giờ ba mươi lăm phút sáng. Phòng đang yên tĩnh, chỉ có một đôi nam nữ ngồi ở một ngăn buồng và hai người đeo huy hiệu dự hội nghị trên ve áo đang thì thầm chuyện trò ở bàn bên cạnh. Phải mười lăm phút nữa những khách đến uống sau giờ ăn trưa mới đổ xô tới đây.
Từ lúc đó trở đi cơ hội thì thầm tâm sự sẽ hết. Tuy nhiên, ông chủ khách sạn cho rằng chỉ có mười phút là đủ để ông trao đổi xong mọi chuyện.
Khi trông thấy ông bước vào, một người bồi rượu tiến lại gần, nhưng ông xua tay cho lui. Warren Trent trông thấy Tom Earlshore đang đứng sau quầy rượu, lưng quay ra ngoài. Ông ta đang cắm cúi đọc tờ báo khổ nhỏ in tin vắn trải trên máy tính tiền rượu. Warren Trent bước cứng nhắc đến gần và ngồi vào một chiếc ghế đẩu cạnh. Bây giờ ông có thể thấy rõ người phụ trách bar đã luống tuổi này đang theo dõi tờ Racing Form.
Ông hỏi:
– Bác dùng tiền của tôi như vậy đấy hả?
Earlshore xoay người lại, hốt hoảng. Rồi từ ngạc nhiên, ông ta tỏ vẻ thích thú khi nhận ra người khách mới đến là ai.
– Ông Trent đấy à? Thế mà ông làm cho thằng em giật cả mình – Tom Earlshore khéo léo gấp tờ Racing Form lại, đút vào túi quần. Dưới mái đầu hói tròn trĩnh, mái tóc bạc phơ húi ngắn kiểu ông già Noel, là bộ mặt nhăn nheo đang nở ra một nụ cười. Warren Trent lấy làm lạ sao trước đây ông không bao giờ hoài nghi cái nụ cười dễ chịu đó nhỉ.
– Lâu lắm rồi chúng tôi mới lại được gặp ông chủ ở đây đây ông Trent ạ. Lâu lắm rồi.
– Bác không ca thán điều gì chứ?
Earlshore ngập ngừng:
– Vâng, không có gì cả.
– Đáng lẽ tôi phải nghĩ đến chuyện bác mà được rảnh rang một mình thì bác càng có nhiều cơ hội đấy.
Nét mặt người phụ trách bar thoáng lộ vẻ nghi ngờ.
Ông ta cười to như để tự trấn tĩnh:
– Ông Trent, trước đây ông vẫn thích đùa vui chút đỉnh. À phải, ông đã xuống đây, tôi có cái này để khoe với ông. Tôi cũng định lên văn phòng của ông nhưng chưa có dịp nào cả – Nói đoạn, Earlshore mở ngăn kéo ở phía dưới bai, lấy một chiếc phong bì và rút ra một tấm ảnh màu – Đây là ảnh thằng Derek, cháu ngoại thứ ba của tôi đấy. Cũng khỏe mạnh rắn rỏi như mẹ nó, đó cũng là nhờ ông đã giúp cho con mẹ nó ngày xưa. Con Ethal nhà tôi đây, ông còn nhớ chứ? Cháu vẫn thường gửi lời hỏi thăm ông luôn, bao giờ cháu cũng kèm theo lời chúc ông như nó chúc hai vợ chồng già nhà tôi – ông ta đặt tấm hình lên mặt quầy.
Warren Trent cầm bức ảnh lên một cách miễn cưỡng. Ông không hề cúi xuống nhìn mà đưa trả lại luôn.
Earlshore bần thần hỏi:
– Có chuyện gì vậy, ông Trent – Không thấy đáp ông ta hỏi tiếp: – Tôi pha cho ông uống chút gì nhé?
Ông đã định từ chối, nhưng lại thay đổi ý kiến.
– Cho một sâm banh gin Ramox.
– Xin có ngay! Tom Earlshore nhanh nhẹn lấy ngay các thành phần rượu. Trước đây cứ nhìn hắn ta làm, bao giờ ông cũng thấy thích thú. Thỉnh thoảng mỗi khi Warren Trent chiêu đãi khách tại phòng riêng của mình, ông cho vời Tom lên để pha rượu, chủ yếu vì cách biểu diễn pha rượu của ông ta làm tôn thêm giá trị chất lượng của các ly rượu. Ông ta rất tiết kiệm động tác và khéo léo nhanh nhẹn như một diễn viên tung hứng. Lúc này ông ta cũng đang trổ tài và cuối cùng mỹ mãn đặt một ly rượu trước mặt ông chủ khách sạn.
Warren Trent nhấm nháp, rồi gật đầu.
Earlshore hỏi:
– Được không ạ?
– Được – Warren Trent đáp – Vẫn tuyệt vời như bác đã từng làm – Mắt ông nhìn thẳng vào mắt Earlshore – Tôi rất mừng là như vậy, bởi vì đây là ly rượu cuối cùng mà bác pha cho tôi uống tại khách sạn này. Từ lúng túng Earlshore như đã vỡ lẽ mọi chuyện, ông ta lại cả cười:
– Ông Trent, ông không nói như vậy chứ? Không chứ?
Ông chủ khách sạn không thèm để ý, đẩy chiếc cốc ra – Bác Tom, tại sao bác lại làm như vậy? Tại sao lại có cả bác, trong số những người đó?
– Xin thề trước Chúa, tôi không biết…
– Đừng có mà gạt tôi, Tom. Anh làm như vậy là quá đủ rồi.
– Ông Trent, xin ông cho tôi nói…
– Câm cái mồm nói láo đi. – Tiếng quát cắt ngang giữa không khí đang yên tĩnh.
Tiếng chuyện trò rì rầm trong phòng ngừng lại. Nhìn qua đôi mắt thảng thốt của người phụ trách quầy rượu, Warren Trent đoán ngay phía sau lưng ông có mấy người đang ngoảnh đầu nhìn họ. Ông nhận thấy cơn giận của ông đang bừng bừng mặc dù đã cố kiềm chế.
Earlshore nuốt nước bọt:
– Ông Trent, tôi xin ông. Tôi đã làm việc ở đây ba mươi năm. Chưa bao giờ ông nói nặng với tôi như vậy – Giọng ông ta thì thào đủ nghe.
Warren Trent rút từ túi trong áo vét bản báo cáo của các điều tra viên của O’Keef. Ông giở qua hai trang rồi gập lại một phần ba, trỏ tay vào một đoạn, ra lệnh:
– Đọc đi.
Earlshore quờ quạng vớ lấy đôi kính, đeo lên mắt, hai tay run run. Ông ta đọc qua vài dòng rồi dừng lại, ngẩng lên nhìn. Không còn chối vào đâu được nữa. Chỉ còn thấy ở ông ta một nỗi sợ hãi có tính bản năng, như một con bò đang chịu tội.
– Hết đường chối cãi rồi nhé! Warren Trent đấm nắm tay xuống mặt quầy rượu. Giờ thì ông bất cần, không phải hạ giọng. Ông đã mặc cho cơn giận bùng lên:
– Tôi mà đã định theo dõi thì tôi có cách. Đúng hết, không sai gì chứ? Anh đã lừa dối tôi, anh đã ăn cắp và cũng như mọi bọn lừa đảo, trộm cắp khác, anh đã để lại dấu vết đằng sau.
Tom Earlshore điếng người, hiểu ra mọi chuyện, toát cả mồ hôi. Dường như hết sức đột ngột, cái thế giới ông ta vẫn tin là rất an toàn kia bỗng nổ tung, tan tác. Đã nhiều năm nay ông lừa dối chủ đến mức thấy gần như không thể có chuyện phát hiện. Ngay cả trong những dự đoán xấu nhất Tom cũng không bao giờ nghĩ sẽ có một ngày như thế này. Bây giờ ông ta lo lắng tự hỏi không biết ông Warren có biết cái vốn tích luỹ được do thâm lạm đã lớn đến mức nào không.
Ngón tay trỏ của ông Trent đập đập vào tập báo cáo đặt giữa họ ở trên quầy bar: – Những kẻ này sở dĩ dò ra được sự tham ô vì họ không mắc phải sai lầm cả tin, như tôi đã quá tin ở anh, tin anh như tin một người bạn – Sự xúc động làm cho ông lặng đi giây lát rồi ông nói tiếp – Nhưng giá như tôi để tâm, tôi cũng sẽ tìm ra được bằng chứng. Ngoài việc này còn khối chuyện khác nữa. Có phải thế không?
Tom Earlshore thiểu não gật đầu.
– Mà anh cũng không phải lo lắng làm gì. Tôi không có ý định trừng phạt đâu. Nếu làm, tôi sẽ thấy chính tôi tự dày vò tôi nhiều hơn.
Một tâm trạng phấn chấn thoáng hiện trên nét mặt ông già đứng bar. Nhưng ông ta đã nhanh chóng giấu vội.
Ông van vỉ:
– Tôi xin thề nếu ông cho tôi một cơ hội nữa, tôi hứa sẽ không để việc này lặp lại.
– Nghĩa là sau bao nhiêu năm trời ăn cắp và lừa đảo, đến nay chỉ vì bị bắt quả tang anh mới nghĩ đến việc thôi ăn cắp chứ gì?
– Ông Trent ơi, ở vào tuổi tôi bây giờ kiếm được một việc khác không dễ dàng gì. Tôi còn cả một gia đình…
Warren nói nhỏ:
– Phải, Tom ạ. Tôi cũng nhớ đến điều đó.
Earlshore đỏ bừng mặt. Ông ta vụng về chống chế: – Số tiền tôi kiếm được ở đây, bằng công việc này, không bao giờ đủ để chu cấp cho gia đình. Lúc nào cũng có hàng tập hóa đơn phải thanh toán; nhiều thứ cần tiêu cho đàn con…
– Lại còn cả cho bọn đánh cá ngựa nữa, phải không Tom? Anh nhớ kể cả họ vào đây nữa chứ. Bọn cá ngựa lúc nào cũng bám theo anh chứ gì? Để đòi tiền ấy mà – Hình như câu nói này chỉ là một phát tên vu vơ nhưng sự im lặng của Earlshore xác nhận rằng nó cũng trong đích.
Warren Trent sỗ sàng ra lệnh:
– Như vậy là quá đủ. Bây giờ thì anh hãy bước chân ra khỏi khách sạn của tôi và đừng bao giờ quay lại đây nữa.
Có thêm nhiều người đang từ ngoài sảnh qua cửa để vào phòng Pontalbơ. Tiếng nói chuyện rì rầm lại tiếp tục và mỗi lúc một to hơn. Một người phụ quầy rượu còn trẻ đã đến ở phía sau bar và đang pha rượu theo đợt đặt do các bồi rượu mang tới. Anh ta cố tránh không nhìn ông chủ và người phụ trách cũ của thình.
Tom Earlshore nháy mắt. Ông ta do dự, phản đối:
– Đang giờ ăn trưa…
– Việc đó không liên can gì đến anh. Từ giờ phút này anh không còn làm ở đây nữa.
Dần dần, cái việc tất yếu phải đến đã đến. Vẻ mặt của ông già phụ trách bar đã thay đổi. Sự cung kính đóng kịch từ nẫy giờ cũng bị trút bỏ. Thay vào đó, ông ta nhăn nhó cười nhạt và tuyên bố thẳng:
– Được rồi, tôi đi. Nhưng ông cũng chẳng còn thọ được lâu nữa đâu mà dương dương cái uy quyền của ông, ông Trent ạ. Ông cũng sắp bị ném ra đường rồi. Ở đây không ai là không biết điều đó.
– Họ biết những gì nào?
Đôi mắt Earlshore rực lên:
– Họ biết ông là một kẻ già nua, khờ khạo, vô dụng đã bị gạt ra rìa rồi. Mặt trong một cái túi giấy ông cũng không biết, huống chi nói đến việc quản lý một khách sạn. Chính vì thế ông sẽ vĩnh viễn mất cái khách sạn này, và khi ông mất nó, tôi sẽ là một trong số nhiều người được bữa cười nôn ruột đấy – ông ta ngập ngừng, thở mạnh, suy nghĩ đến hậu quả của lời cảnh cáo táo tợn vừa rồi. Lòng khao khát muốn trả thù đã thắng thế – Tôi nhớ đã nhiều năm lắm rồi, ông hành động như thể ông làm chủ vận mệnh của tất cả mọi người ở đây. Vâng, có thể là ông cũng đã trả cho chúng tôi hậu hơn những người khác vài ba lần và cũng đã làm phúc như trường hợp ông đã làm cho tôi, như thể Chúa Kitô với Mose nhập vào thành một. Nhưng ông không thể lừa được một ai trong chúng tôi. Ông trả lương như vậy là để chúng tôi không tham gia nghiệp đoàn, còn sự hảo tâm làm cho ông trở nên vĩ đại.
Như vậy người làm công thấy rõ điều đó có lợi cho ông hơn cho họ. Vì vậy họ mới cười ông và phải tự lo cho bản thân mình cũng giống như tôi đã làm. Thú thật với ông, còn nhiều chuyện xảy ra mà chẳng bao giờ ông biết được – Earlshore ngừng lại, nét mặt lộ vẻ nghi ngờ rằng ông đã đi quá xa.
Phía sau họ, người mỗi lúc vào phòng một đông. Bên cạnh họ, hai chiếc ghế đẩu ngồi ở bar cũng đã có người ngồi. Warren Trent suy nghĩ, gõ mạnh ngón tay lên mặt quầy bar bọc da, với tốc độ ngày một nhanh. Thật kỳ lạ, sự giận dữ của ông cách đây mấy phút đã tan biến lúc nào.
Ông chỉ còn giữ lại một quyết tâm sắt đá, không hề ngập ngừng trước bước thứ hai mà ông đã suy xét trước đây.
Ông ngước mắt nhìn người đàn ông mà trong ba chục năm trời ông tin chắc là ông rất nhiều, thế mà thực ra lại không:
– Tom, anh sẽ không bao giờ biết được lý do chính xác tại sao đâu, tuy nhiên việc làm cuối cùng anh dành cho tôi vừa rồi, tôi coi đó là một ân huệ. Thôi, hãy xéo đi ngay, không tôi lại thay đổi ý kiến đưa anh vào tù bây giờ.
Tom Earlshore quay đi và không nhìn sang hai bên, ông ta bước ra khỏi phòng.
Warren Trent bước qua sảnh ra phía cửa phố Carondelet. Ông lạnh lùng né tránh những khóe mắt nhìn trộm của các nhân viên đang quan sát ông. Ông không còn trong tâm trạng dễ chịu thoải mái nữa, vì sáng nay ông biết rằng sự phản bội ẩn trong nụ cười, và vẻ thân thiện kia cố thể chỉ là sự ngụy trang cho sự khinh thị. Lời nhận xét rằng ông đã bị người ta mai mỉa vì những việc ông cố gắng đối xử tốt với người làm công mỗi lúc làm cho ông thêm đau đớn, bởi vì nó chứa đựng sự thực. Thôi cũng được, ông nghĩ, nán đợi thêm một, hai ngày nữa. Rồi xem ai cười ai. Khi ông ra đến ngoài phố, trời đang nắng chang chang, phố xá đông đúc. Một người gác cửa vận đồng phục trông thấy ông vội bước lên phía trước. Warren Trent ra lệnh cho anh ta:
– Gọi cho tôi một cái tắc xi.
Ông đã định đi bộ một hai khối nhà, nhưng cơn đau thần kinh tọa lại trỗi dậy khi ông bước xuống bậc thềm khách sạn; khiến cho ông phải thay đổi ý kiến.
Người gác cổng thổi còi và từ dòng xe đông đúc một chiếc hướng về phía lề đường. Ông Trent, người cứng nhắc, trèo lên xe. Người gác cổng mở cửa xe, đưa tay lên mũ chào kính cẩn. Anh ta đóng sầm cửa xe lại. Warren Trent lại nghĩ, sự kính trọng này cũng là một biểu hiện rỗng tuếch khác. Theo ông, từ nay trở đi, ông sẽ phải cảnh giác với rất nhiều điều mà đã có một thời ông chấp nhận giá trị, cái giá trị bề ngoài.
Chiếc xe bắt đầu chạy và khi nhận thấy vẻ tò mò của người lái xe qua chiếc gương chiếu hậu, ông ra lệnh:
– Đưa tôi đi một vài khối nhà thôi. Tôi cần tìm một trạm điện thoại.
Người kia bảo:
– Thưa ông, trong khách sạn thiếu gì điện thoại cơ chứ.
– Tôi không thiết loại đó. Anh đưa tôi đến trạm điện thoại trả tiền – ông không muốn giải thích rằng cú phôn mà ông sắp gọi đi thuộc loại tuyệt mật không thể sử dụng bất kỳ chiếc máy nào trong khách sạn.
Anh lái xe nhún vai. Sau khi đi qua hai khối nhà, anh ta quay về phía nam theo phố Canal, và lại một lần nữa quan sát ông khách trên xe qua kính chiếu hậu:
– Hôm nay đẹp trời thật. Xuống dưới cảng sẽ có nhiều trạm điện thoại.
Warren Trent gật đầu, ông thấy vui vì có được đôi ba phút tinh thần trở lại thư thái.
Xe cộ thưa hơn khi họ đi ngang qua phố Tchupitulas.
Một phút sau chiếc tắc xi dừng ở khu vực đỗ trước tòa nhà Thanh tra Cảng. Cách đó vài bước có một trạm điện thoại.
Ông đưa cho lái xe một đô la và không lấy tiền thối.
Sau đó, khi sắp sửa đến trạm điện thoại, ông lại thay đổi ý kiến, đi qua Idz Plaxa, đứng bên bờ sông. Hơi nóng giữa ban trưa từ trên trời như đổ xuống đầu và từ mặt đường bê tông bốc lên xuyên qua hai chân. Ông nghĩ, hơi nóng mặt trời chính là người bạn tốt giúp cho xương người già thêm cứng cáp.
Phía bên kia sông Mississippi, khu Algiers lung linh trong nắng. Hôm nay con sông bốc lên mùi khăn khẳn, điều này cũng là hiện tượng bình thường. Con sông cha của những dòng sông này vốn có đặc điểm ngầu bùn, chảy lờ đờ và nặng mùi phù sa. ông nghĩ nó cũng giống như cuộc sống: phù sa, bùn quánh bám chặt quanh ta vẫn không thay đổi. Một chiếc tàu chở hàng chạy ra hướng biển, kéo còi rền rĩ báo cho một chiếc xà lan đang về bến. Chiếc xà lan đổi hướng, con tàu chở hàng không giảm tốc độ. Chẳng mấy chốc chiếc tàu đó sẽ đổi sự cô đơn trên sông để nhận lấy sự cô đơn lớn hơn giữa biển cả. Ông nghĩ: Không biết những người đi trên tàu có ý thức hoặc quan tâm đến điều đó không. Có lẽ là không. Hoặc cũng có thể, giống ông lúc này, họ hiểu rằng không có một nơi chốn nào trên đời này lại không có một người đang cô đơn.
Ông quay lại trạm điện thoại và đóng cửa buồng cẩn thận:
– Tôi gọi điện ghi phiếu nợ – ông báo cho điện thoại viên – Gọi Đặc khu Washington.
Phải chờ vài phút, kể cả việc người ta hỏi về tính chất công việc của ông, lúc đó ông mới được nối với người ông cần gọi. Cuối cùng vang lên trong máy giọng nói thẳng thắn, không màu mè khách sáo của vị lãnh tụ nghiệp đoàn có thế lực nhất trong nước mà theo một số người, cũng là kẻ tham nhũng số dách.
– Cứ nói đi.
– Chào ông – Warren Trent nới – Tôi chỉ ngại xâm phạm đến giờ ăn trưa của ông.
– Ông chỉ có ba phút thôi đấy. – Giọng nói cắt ngang – ông đã để mất mười lăm giây rồi.
Warren Trent vội cướp lời:
– Cách đây ít lâu, chúng ta có gặp nhau, ông đã đưa ra một đề nghị. Có lẽ ông vẫn còn nhớ…
– Tôi vẫn có một trí nhớ tốt. Thế mà có kẻ lại bảo tôi hay quên. Lần gặp đó, tiếc là tôi đã có phần cộc cằn.
– Tôi có đồng hồ bấm giây đấy. Mất nửa phút rồi.
– Tôi sẵn sàng thương lượng.
– Tôi thương lượng nhiều rồi. Ai cũng chấp nhận cả.
Warren Trent quật lại:
– Nếu thời gian hết sức quý báu với ông như vậy thì ta chẳng nên bắt bẻ nhau làm gì, vô ích. Đã nhiều năm nay ông cố gắng tìm chỗ đứng trong ngành kinh doanh khách sạn. Ông còn muốn củng cố vị trí của nghiệp đoàn ông ở New Orleans. Nay tôi xin tạo cho ông một cơ hội. Một tên hai đích.
– Giá cả bao nhiêu?
– Hai triệu đô la, dưới dạng nợ thế chấp có bảo đảm. Để đáp lại ông sẽ có một cơ sở cho nghiệp đoàn của ông và soạn thảo hợp đồng riêng của ông. Theo tôi như vậy là hợp lý bởi vì đó là tiền riêng của ông bỏ vào.
Người kia có vẻ tư lự:
– Thôi được, thôi được, thôi được.
Warren Trent đề nghị:
– Xin ông dẹp hộ cái đồng hồ bấm giây đó đi cho tôi nhờ.
Tiếng cười khanh khách ở đầu đi bên kia:
– Đâu có! ông ngạc nhiên hả? Sở dĩ tôi phải nhắc đến nó để giục ông khẩn trương hơn. Bao giờ thì ông cần tiền?
– Thứ sáu này. Tôi phải quyết định trước buổi trưa ngày mai.
Cuối cùng, khi mọi người quay lưng lại ông mới gõ cửa tôi chứ gì?
Không cần phải nói dối, ông đáp cụt lủn:
– Phải.
– Ông đã đổ tiền của vào cho nó chưa?
– Chưa nhiều, nên không thể làm thay đổi tình thế được. Bọn O’Keef tin là làm được. Vì vậy họ đã đề nghị hỏi mua.
– Mua hớt thế này có thể gây go đấy.
– Nhưng nếu tôi bán cho họ, ông đừng hòng bao giờ giành được cơ hội này nữa.
Một sự im lặng mà Warren Trent không muốn quấy rầy, ông có thế cảm nhận được người kia đang tính toán suy nghĩ. Ông tin rằng lời đề nghị của ông đang được người ta cân nhắc nghiêm túc. Một chục năm nay Nghiệp đoàn Journeymen Quốc tế đã cố tìm cách thâm nhập vào ngành kinh doanh khách sạn. Tuy nhiên, cho đến nay, không giống như những thành viên của Journeymen làm om sòm, nghiệp đoàn này đã thất bại thảm hại. Nguyên nhân chủ yếu là sự liên kết, chỉ riêng trong một vấn đề này thôi, giữa các chủ khách sạn, những người sợ Journeymen, với các tổ chức nghiệp đoàn khác trung thực hơn, vốn căm ghét bọn họ. Đối với Journeymen, một hợp đồng với St. Gregory, một khách sạn cho đến nay không đi theo một nghiệp đoàn nào, có nghĩa là chỗ gây vỡ trên cả con đập đồ sộ của sự chống đối có tổ chức.
Còn chuyện tiền nong, món đầu tư hai triệu đô la, nếu như Journeymen quyết định thì cũng chỉ là một khoản nhỏ, chẳng thấm tháp gì so với ngân quỹ khổng lồ của nghiệp đoàn này. Bao năm nay họ đã tiêu nhiều món tiền còn lớn hơn nhiều cho chiến dịch chết yểu nhằm thu hút hội viên là chủ khách sạn.
Warren Trent biết rằng: trong giới kinh doanh khách sạn người ta sẽ xỉ vả ông, gọi ông là thằng phản bội nếu như việc thương lượng ông đưa ra lúc này tiến hành trôi chảy. Và giữa đám nhân viên làm thuê cho ông, ông cũng sẽ bị họ kịch liệt công kích, chí ít cũng là những người ý thức được họ đã bị phản bội.
Chính những người làm công này sẽ phải chịu thiệt thòi nhiều nhất, ông biết, nếu ký hợp đồng với nghiệp đoàn, tất phải chấp nhận việc tăng lương nhỏ giọt. Tình hình này vẫn thường xảy ra, coi như một cử chỉ nhượng bộ. Nhưng dù sao việc tăng lương cũng đúng kỳ, và trên thực tế, sớm hơn kỳ hạn, mà điều này chính bản thân ông cũng đã có dự định làm, nếu như việc đầu tư lại khách sạn được tiến hành êm đẹp như thế nào đấy. Phương án trích lương hưu của nhân viên đang làm hiện nay đã ủng hộ cho quỹ của nghiệp đoàn sẽ bị xóa bỏ. Nhưng như vậy chỉ mang lại thuận lợi cho quỹ của Journeymen thôi. Điều quan trọng nhất là nguyệt phí nghiệp đoàn, có lẽ hàng tháng phải góp từ sáu đến mười đô la, sẽ trở thành bắt buộc. Như vậy, không những việc được tăng lương sớm bị xóa bỏ mà ngay cả số tiền mang về nhà của nhân viên cũng sẽ bị giảm sút.
Warren Trent nghĩ: Thế đấy, ông sẽ phải chịu đựng sự mai mỉa của các đồng nghiệp trong giới kinh doanh khách sạn. Còn đối với những người khác, ông không thấy ân hận gì khi nhớ đến Tom Earlshore và những người như ông ta.
Giọng nói thẳng tuột trong máy điện thoại cắt đứt dòng suy nghĩ của ông.
– Tôi sẽ cử hai nhân viên tài chính của tôi tới. Chiều nay họ sẽ bay xuống dưới đó. Chỉ trong một đêm họ sẽ gỡ tung sổ sách của ông. Tôi nói thực đấy: gỡ tung ra. Vậy đừng có giấu giếm chúng tôi bất cứ điều gì – Lời đe dọa thẳng thừng gợi cho ông nhớ một điều rằng chỉ có những kẻ hoặc cứng cựa hoặc điên rồ mới dám chơi với nghiệp đoàn Journeymen.
Ông chủ khách sạn nói vênh vang:
– Tôi còn gì nữa để mà giấu cơ chứ? Ông sẽ nắm được toàn bộ tình hình ở đây.
– Nếu sáng mai người của tôi báo cáo về cho tôi rằng được thì ông sẽ ký hợp đồng làm cơ sở khách sạn cho nghiệp đoàn chúng tôi trong ba năm – Đó là một lời tuyên bố, không phải một vấn đề nêu ra bàn.
– Đương nhiên tôi rất vui mừng được ký với ông. Và tất yếu sẽ có một cuộc bỏ phiếu thăm dò trong nhân viên. Tuy nhiên tôi dự kiến chắc chắn kết quả sẽ ra sao rồi – Warren Trent cảm thấy bồn chồn trong giây lát, ông không biết có thực là ông đảm bảo được không. Sẽ có sự phản đối trước việc liên minh với Journeymen. Điều này có nhiều khả năng. Tuy thế, một số đông nhân viên sẽ ngả theo ý kiến khuyên giải của ông nếu như ông trình bầy với đủ sức thuyết phục. Vấn đề là, nếu họ có đủ đa số cần thiết hay không?
Chủ tịch Journeymen nói:
– Không có bầu bàn gì hết:
– Nhưng mà luật…
Giọng trong máy rít lên cáu kỉnh:
– Đừng có đem luật lao động ra mà dạy khôn tôi. Tôi hiểu luật lắm chứ, hiểu hơn ông nhiều – Ngừng lại một lát, lại có tiếng giải thích càu nhàu – ở đây sẽ là một dạng Hợp đồng tự nguyện thừa nhận. Không có điều nào trong luật nói rằng loại hợp đồng này cần phải có biểu quyết. Sẽ không bầu bàn gì hết.
Warren Trent thừa nhận là có thể giải quyết đúng như vậy. Thủ tục có thể phi đạo đức, không hợp lòng người, nhưng rõ ràng là hợp pháp. Chữ ký của ông trong hợp đồng với nghiệp đoàn trong bất kỳ tình hình nào cũng mang tính chất ràng buộc đối với mọi nhân viên của khách sạn dù cho họ có thích hay không. Thôi đành vậy, ông buồn bã nghĩ. Cách đó sẽ làm cho tình hình đơn giản hơn mà kết quả cuối cùng vẫn không thay đổi.
Ông hỏi tiếp:
– Thế ông định xử lý món nợ thế chấp như thế nào?
– Ông biết đây là một vấn đề gay cấn. Trước đây, các ban điều tra của Thượng Viện đã chỉ trích gay gắt tổ chức Journeymen về việc đầu tư lớn vào các công ty mà chính họ đã có nhiều hợp đồng lao động.
Ông sẽ đưa ra một lá thư xin vay Quỹ Hưu của Journeymen hai triệu đô la với lãi suất tám phân. Bức thư này được đảm bảo bằng việc lấy khách sạn làm vật thế chấp cơ bản. Món nợ này sẽ do Đại hội miến Nam của Journeymen thay mặt cho Quỹ Hưu phụ trách.
Warren Trent nhận thấy thu xếp như vậy là hết sức khôn khéo. Tuy vi phạm tinh thần của mọi thứ luật liên quan đến việc sử dụng quỹ nghiệp đoàn, thế nhưng về kỹ thuật nó vẫn nằm trong khuôn khổ cho phép.
– Thư xin vay này có kỳ hạn ba năm và sẽ coi là mất giá trị nếu ông không trả đủ hai kỳ lãi trên tiếp.
Warren Trent chần chừ:
– Đồng ý mọi điều, nhưng tôi cần thời hạn năm năm.
– Ông chỉ có ba năm thôi.
Kể ra cuộc mặc cả cũng hóc. Nhưng ba năm, chí ít ông cũng đủ thời gian khôi phục vị trí xứng đáng của khách sạn. Ông miễn cưỡng đáp:
– Thôi được.
Có một tiếng cách ở đầu dây đằng kia và cú điện thoại cắt luôn.
Warren Trent bước ra khỏi buồng điện thoại, mỉm cười mặc dù cơn đau thần kinh hông lại làm ông khó chịu.
