Sau cuộc xung đột ở sảnh và kết thúc là việc bác sĩ Nicholas phải ra về, Peter McDermott nặng nề nghĩ đến những hậu quả sắp tới. Theo anh, việc can thiệp vội vàng của các quan chức Đại hội toàn ngành nha khoa Hoa Kỳ chẳng đem lại kết quả gì ngay tức thì. Nếu như ông Chủ tịch, bác sĩ Ingram, giữ ý kiến đe dọa sẽ rút các đại biểu hội nghị khỏi khách sạn thì việc này sớm nhất cũng không thể xảy ra trước trưa ngày mai được. Như vậy, có thể tạm coi là ổn và đành chờ thêm một hai tiếng nữa cho cơn giận thư thư đã. Sau đó anh sẽ đến gặp bác sĩ Ingram và những viên chức khác của Đại hội, nếu cần.
Còn đối với việc nhà báo kia đã có mặt trong tình huống đáng buồn thì rõ ràng quá muộn rồi, không thể thay đổi được hậu quả tai hại đã gây ra. Đứng trên lợi ích của khách sạn, Peter rất mong người chủ bút nào đó, có trọng trách xem xét mức độ quan trọng của các bản tin sẽ coi sự kiện vừa rồi không có gì ghê gớm cả.
Anh trở về văn phòng của mình ở tầng lửng và lại đắm mình vào những công việc còn lại của buổi sáng. Anh cố dẹp bỏ ý muốn tìm gặp Christine. Tiềm thức bảo anh trong chuyện này có lẽ cần phải có một thời gian lắng đi.
Tuy nhiên anh cũng thấy ngây sau đây sẽ phải tìm cách sửa chữa sai lầm to lớn vừa mắc phải sáng nay.
Ngay sau buổi trưa anh quyết định ghé lại chỗ Christine. Thế nhưng dự định này đã bị lắng đi vì một cú phôn của viên trợ lý giám đốc trực nhật báo cho anh biết có một phòng của khách đã bị mất trộm. Phòng của ông Stanley Kilbrick ở Marshalltown bang Iowa. Tuy tin này mới thông báo, nhưng rõ ràng vụ trộm xảy ra từ hồi đêm. Ông khách đưa ra một bản liệt kê rất dài các món quý giá và tiền mặt đã bị mất. Và theo người trợ lý giám đốc ông khách có vẻ buồn rũ ra. Một thám tử khách sạn đã có mặt tại hiện trường. Peter gọi điện tìm người phụ trách an ninh khách sạn.
Anh không rõ Ogylvie hiện có mặt tại khách sạn hay không, bởi giờ trực của lão béo phị đó vào lúc nào thì chỉ có lão mới biết. Tuy nhiên, liền sau đó, anh được tin nhắn lại là Ogylvie đã điều tra vụ này và báo cáo ngay tình hình.
Chừng hai mươi phút sau ông ta đến văn phòng của Peter.
Viên phụ trách an ninh cẩn thận đặt tấm thân đồ sộ lên chiếc ghế tựa sâu bọc da đặt đối diện bàn làm việc.
Peter cố nén sự ác cảm sâu xa, hỏi:
– Toàn bộ tình hình ra sao?
– Thằng cha bị mất cắp là một gã rất khờ. Hắn đã say khướt. Đây là danh sách những thứ bị mất – Ogylvie đặt lên bàn Peter một bản kê khai. – Tôi đã giữ một bản riêng rồi.
– Cảm ơn. Tôi sẽ trao nó cho ban bảo hiểm của chúng ta. Thế căn phòng ra sao? Có dấu hiệu gì là trộm phá cửa để vào không?
Người thám tử lắc đầu:
– Khóa vẫn an toàn. Sự thể là như thế này. Kithrick thú nhận rằng đêm qua hắn đã đến khu Pháp kiều ăn chơi xả láng. Lẽ ra hắn phải đưa bà mẹ đi theo vắt mũi cho hắn mới phải. Hắn khai hắn đã để mất chìa khóa. Trước sau hắn khẳng định như vậy. Tuy nhiên rất có thể hắn đã bị một ả gái điếm cho vào tròng.
– Hắn có thấy nếu hợp tác với chúng ta hắn sẽ có khả năng thu hồi được những vật đã bị mất cắp hay không?
– Tôi đã bảo hắn như vậy. Hắn không làm gì cả. Bởi một lẽ, cho đến bây giờ, hắn vẫn cảm thấy u u minh minh. Thứ hai hắn lấy số tiền bảo hiểm của khách sạn đối với những thứ hắn mất cũng là khá đây. Có khi còn lớn hơn thực tế một chút. Hắn khai trong ví hắn có đến bốn trăm đô la tiền mặt.
– Ông có tin hắn không?
– Không.
Peter nghĩ: “Gã này thật đáng đời. Bảo hiểm khách sạn đối với những đồ bị mất cắp cao nhất chỉ đến một trăm đô la nhưng loại trừ số tiền mặt, bất kể số lượng bao nhiêu. Peter hỏi:
– Ông có ý kiến gì thêm? Liệu đây có phải là một vụ duy nhất hay không?
– Không đâu – Ogylvie nói – Tôi cho rằng trong khách sạn hiện nay đang có một tên trộm chuyên nghiệp hoạt động.
– Và sao ông nghĩ như vậy?
Một người khách ở phòng 641 cũng phàn nàn về một chuyện xẩy ra vào sáng sớm hôm nay. Có lẽ vụ này chưa ai báo cáo với anh.
Peter nói:
– Nếu tôi biết, tôi đã không phải hỏi.
– Sớm hôm nay, lúc trời gần sáng, tôi đoán chừng như vậy, có một kẻ đã lọt vào phòng 641 bằng một chìa khóa. Người trong phòng tỉnh giấc. Gã kia làm ra bộ say rượu nói là hắn nhầm phòng đó với phòng 614. Người khách trong phòng lại đi ngủ, nhưng đến khi tỉnh giấc anh ta thắc mắc làm sao chìa khóa phòng 614 lại vừa khít phòng 641 được. Tôi đã được anh ta kể lại như vậy.
– Có lẽ nhân viên đã đưa lầm chìa khóa chăng?
– Có khả năng như thế, nhưng thực tế họ không đưa nhầm. Tôi đã kiểm tra lại rồi. Người phụ trách xếp phòng trực ca đêm đã thề rằng cả hai chìa khóa vẫn ở đó, phòng 614 là của một đôi vợ chồng, họ đi ngủ từ sớm và không ra ngoài.
– Ông có được nghe tả lại hình dạng của kẻ đã đột nhập phòng 641 không?
– Sơ sài quá không giúp ích được gì. Vì vậy, để chắc chắn tôi đã mời khách ở phòng 641 và 614 gặp nhau. Té ra không phải là người khách 614 đã vào phòng 641. Thử lại cả chìa khóa, thì chìa của phòng này không mở được phòng kia và ngược lại.
Peter trầm ngâm:
– Có lẽ phỏng đoán của ông về tên trộm chuyên nghiệp kia là có lý. Vậy chúng ta sẽ phải phát động một chiến dịch truy lùng.
– Tôi đã tiến hành một số việc – Ogylvie nói – Tôi đã dặn các nhân viên thường trực trong các ca mấy ngày sắp tới phải hỏi tên khách khi trao chìa khóa. Nếu cảm thấy có điều gì khả nghi, họ vẫn trao chìa khóa nhưng nhận diện người đã nhận chìa khóa, sau đó nhanh chóng báo ngay cho một thám tử của tôi được biết. Chỉ thị phải canh chừng những kẻ lảng vảng hoặc có hiện tượng khả nghi cũng đang được truyền tới các hầu phòng và trực tầng. Quân của tôi sẽ làm thêm giờ, tuần tra suốt đêm ở tất cả các tầng gác.
Peter gật đầu tán thưởng:
– Nghe được đấy. Ông xem có thể đến ở hẳn trong khách sạn đôi ba ngày được không? Nếu ông muốn, tôi sẽ bố trí riêng một phòng.
Peter nhận thấy anh chàng béo phị thoáng lộ vẻ băn khoăn. Sau đó ông ta lắc đầu:
– Không cần như vậy.
– Nhưng ông sẽ quanh quẩn ở đây chứ?
– Nhất định là như thế – Lời nói nghe có vẻ khẳng định nhưng lại thiếu tin tưởng. Và dường như Ogylvie cũng nhận thấy sự thiếu sót, nói thêm – Nhưng dù có một lúc nào đó tôi vắng mặt ở đây, thì quân của tôi cũng biết rõ cần phải làm gì.
Peter vẫn hoài nghi, hỏi thêm:
– Chúng ta phải làm việc với cảnh sát sao đây?
– Sẽ có đôi ba cảnh sát vận thường phục tới đây. Tôi sẽ lưu ý họ về cái thằng cha kia, chắc rồi họ sẽ kiểm tra lại để lọc ra xem đứa nào có khả năng lọt vào thành phố này. Nếu may mắn lại đúng là một tướng đã có tiền án thì chúng ta sẽ lôi cổ được hắn ra ngay.
– Đương nhiên, trong lúc chờ đợi, ông bạn quý tử của chúng ta, dù là ai chăng nữa, chắc cũng không chịu ngồi yên.
– Điều đó thì rõ rồi. Và nếu quả đúng là hắn tinh khôn như tôi nghĩ thì lúc này hắn phải dự kiến khả năng chúng ta đang truy lùng hắn. Như vậy, rất có thể hắn sẽ cố gắng hành sự sao cho thật mau lẹ, rồi rút dù thẳng.
Peter vạch rõ:
– Đấy chính lại thêm một lý do nữa khiến chúng tôi cần ông luôn luôn có mặt tại đây.
Ogylvie phản đối:
– Tôi đã dự kiến hết mọi khả năng rồi.
– Tôi cũng tin là như vậy. Thực tế thì tôi không thể nghĩ đến một khả năng nào mà ông để lọt. Cho nên điều tôi băn khoăn, là ở chỗ, nếu như ông không có mặt ở đây thì không một ai khác đủ năng lực nhanh nhạy như ông để giải quyết.
Peter suy luận: dù có tán tụng lão phụ trách an ninh khách sạn đến trời chăng nữa thì hắn vẫn khăng khăng bám lấy cái công việc định làm. Thế nhưng thật là bực mình, chính vì quan hệ căng thẳng giữa hai người mà anh ta cần phải vật nài hắn ta thực hiện một nghĩa vụ rõ ràng là của hắn.
– Anh khỏi phải lo – Ogylvie nói. Nhưng chính tiềm thức của Peter lại bảo với anh rằng hình như con người béo phị này lại đang lo lắng vì một lý do nào đó khi cất cái thân hình to lớn đứng dậy, ì ạch bước ra khỏi phòng.
Lát sau Peter cũng ra theo. Anh dừng lại chỉ thị cho chị thư ký bảo bộ phận bảo hiểm của khách biết tin về vụ trộm kèm theo bản liệt kê các đồ bị mất mà Ogylvie đã cung cấp.
Peter đi một quãng ngắn tới văn phòng của Christine.
Anh thất vọng thấy cô không có ở đấy. Anh định sẽ quay trở lại ngay sau giờ ăn trưa.
Anh xuống sảnh và đến phòng ăn chính. Khi bước vào phòng, anh nhận thấy quang cảnh phục vụ bữa trưa nhộn nhịp, điều đó chứng tỏ lúc này số khách trọ ở khách sạn lên đến mức cao.
Peter gật đầu thân mật chào Max, người bồi trưởng.
Anh ta bước vội tới:
– Chào anh McDermott. Anh dùng bàn đơn chứ?
– Không, tôi muốn gia nhập “trại trừng phạt”.
Peter ít khi dùng đặc quyền của anh với tư cách trợ lý tổng giám đốc, tức là được có riêng một bàn trong phòng ăn. Thường thường, anh thích ngồi cùng các nhân viên hành chính khác ở một cái bàn tròn to giành cho họ ở gần cửa bếp.
Ông quản trị trưởng khách sạn Royall Edwards cùng Sam Jakubiec, phụ trách phòng ghi nợ dáng người đậm, đầu hói, đang ngồi ăn khi Peter đến ngồi cùng. Kỹ sư trưởng Doc Vickery đến trước đó mấy phút, đang chăm chú đọc tờ thực đơn. Peter ngồi nhẹ nhàng vào chiếc ghế Max vừa kéo ra cho anh:
– Có món nào khá không?
– Thử nếm món xúp cải soong ấy – Jakubiec vừa húp vừa bảo – Không giống bất kỳ món nào các bà làm ở nhà, khá ra phết.
Royall Edwards bằng cái giọng chính xác của anh kế toán bổ sung:
– Đặc sản hôm nay là gà quay. Mới mang ra đấy.
Khi người bồi trưởng rút lui thì một anh bồi bàn trẻ tuổi xuất hiện rất nhanh bên cạnh họ. Mặc dù đã có những chỉ thị hiện hành là không được ưu tiên, song cái bàn mà các nhân viên mệnh đanh là “trại trừng phạt” kia vẫn được phục vụ tốt nhất trong nhà ăn này. Peter cũng như mọi người đều nhận thấy khó có thể thuyết phục cho nhân viên phục vụ rằng các khách hàng mất tiền với khách sạn có vai trò quan trọng hơn so với các viên chức hành chính đang điều hành khách sạn.
Ông kỹ sư trưởng gập tờ thực đơn lại, nhìn qua đôi kính gọng bự mà như lệ thường đã tụt xuống đến chỏm mũi:
– Này chú, lấy cho mình cũng như mọi người.
– Tớ cũng vậy – Peter trả lại bản thực đơn mà anh không hề mở ra.
Anh bồi ngần ngừ:
– Thưa ông, tôi không dám chắc có còn gà rán không ạ. Có lẽ ông chọn cho món khác.
– Thôi được – Jakubiec nói – Sao bây giờ mới nói?
– Ông Jakubiec ạ, tôi có thể thay món ông đặt một cách dễ dàng. Ông Edwards cũng như vậy đấy ạ.
Peter hỏi:
– Thế món gà rán làm sao?
– Có lẽ không cần nói ra – Anh bồi lúng túng – tình hình thế này ạ. Gần đây chúng tôi bị chê bai nhiều. Khách ăn xem ra không thích món gà rán nữa – Nói đến đây anh ta quay lại, đảo mắt nhìn quanh phòng ăn đang đông đúc.
Peter bảo anh ta:
– Thế thì tôi càng tò mò muốn biết nguyên nhân vì sao. Nhưng bây giờ, cứ lấy cho tôi món gà rán như tôi đã gọi – Với vẻ miễn cưỡng, mấy người kia gật gù tán thành.
Khi anh bồi đi rồi, Jakubiec hỏi:
– Tôi nghe đồn hội nghị các bác sĩ nha khoa có thể sẽ rút khỏi khách sạn ta, đúng vậy không?
– Điều anh nghe đồn là đúng đấy, Sam ạ. Đến chiều nay tôi sẽ biết rõ nó còn là lời đồn hay đã trở thành sự thật – Peter bắt đầu ăn xúp, dĩa xúp xuất hiện lúc nào cứ như ảo thuật. Sau đó anh thuật lại chuyện xô xát xảy ra ở sảnh cách đó một giờ. Nét mặt mọi người trở nên nghiêm trang trong khi họ lắng nghe.
Royall Edwards nhận xét:
– Theo tôi thì quả là họa vô đơn chí. Qua những số liệu tài chính của tôi gần đây, điều này các anh đều biết cả, sự cố này cũng chỉ là một tai họa bổ sung mà thôi.
Người kỹ sư trưởng nhận định:
– Nếu đúng tình hình như vậy chắc chắn người ta sẽ cắt giảm một phần ngân sách dành cho trang bị máy móc đầu tiên.
Ông quản trị trưởng góp thêm:
– Hoặc cắt giảm hoặc xóa bỏ hoàn toàn ấy chứ.
Kỹ sư trưởng làu bàu, khó chịu:
– Có khi cả lũ chúng ta đều bị “bê” sạch khỏi đây nếu như bọn O’Keef tiếp quản khách sạn này – ông ta nhìn Peter có vẻ dò hỏi, nhưng Royall Edwards đã gật đầu ra hiệu khi anh bồi của họ quay trở lại. Mấy người lặng im không nói gì trong khi anh bồi khéo léo dọn thức ăn cho ông quản trị trưởng và ông phụ trách phòng ghi nợ. Xung quanh họ, phòng ăn vẫn vang lên tiếng rì rầm chuyện trò, tiếng lanh canh se sẽ của đĩa bát và những người bồi vẫn tiếp tục đi qua cửa bếp.
Khi anh bồi đi khỏi, Jakubiec hỏi róng riết:
– Thế nào? Có tin gì mới không?
Peter lắc đầu:
– Vẫn chưa biết được gì, Sam ạ. Trừ một điều là chuyện này sẽ được giải quyết rất chóng vánh.
Royall Edwards nói:
– Cậu có nhớ là chúng tớ đã khuyên cậu những gì rồi không? Bây giờ tớ cũng chân thành góp thêm cho cậu một câu là hãy mau mau mà chuồn đi thôi – ông ta cắt lấy một miếng gà rán vừa được anh bồi mang đến. Sau đó, ông ta đặt dao và nĩa xuống đĩa – Lại một lần nữa tớ đề nghị chúng mình nên kính cẩn lắng nghe ý kiến của bồi bàn chúng ta.
Peter hỏi:
– Có thật món đó không?
– Đâu có – ông quản trị trưởng nói – Nếu cậu ta thích loại thức ăn đã có mùi thì khỏi phải nói.
Jakubiec tỏ ý nghi ngờ. Anh cũng cắt lấy một miếng thịt gà, trước con mắt chăm chú theo dõi của mọi người.
Cuối cùng anh tuyên bố.
– Nấu với nướng thế này à? Tôi mà phải trả tiền bữa – ăn này, thì tôi sẽ không để yên đâu.
Peter hơi nhổm lên khỏi ghế. Anh vừa thấy người bồi trưởng đang đi ngang qua phòng ăn, vẫy anh ta lại:
– Max, bếp trưởng Hebrand có trực hôm nay không?
– Thưa không ạ, ông ấy báo bị ốm. Hôm nay bếp phó Lemieu đang trực – Người bồi trưởng nói vẻ lo âu – Nếu quả vì món gà rán thì tôi xin bảo đảm với ông là mọi việc sẽ được sửa chữa đâu vào đấy. Chúng tôi đã ngừng phục vụ món đó cho khách và hễ chỗ nào có lời phàn nàn, chúng tôi thay toàn bộ suất ăn – Anh ta liếc mắt nhìn bàn – Chúng tôi cũng sẽ làm như vậy ở đây ngay lập tức.
Peter nói:
– Tôi muốn biết chuyện gì xảy ra trong bếp. Anh làm ơn mời bếp phó Lemieu ra đây trao đổi với chúng tôi.
Cửa bếp ngay bên cạnh. Peter đã định vào hỏi trực tiếp xem tại sao đặc sản trưa nay dở như vậy. Nhưng làm thế thật chẳng tế nhị chút nào.
Trong quan hệ với các bếp trưởng, bếp phó, những viên chức hành chính của khách sạn tuân thủ một tập tục có tính chất quy ước truyền thống, giống như tập tục đối xử với gia nhân ở các gia đình vương giả. Trong phạm vi bếp núc, bếp trưởng, hoặc nếu như bếp trưởng vắng mặt thì bếp phó sẽ được coi là ông vua, mọi người phải phục tùng.
Người ta không thể tưởng tượng được nếu một giám đốc khách sạn tự động bước vào bếp mà không được mời trước.
Bếp trưởng cũng có thể bị sa thải và thực tế đã có chuyện này. Thế nhưng chỉ trừ trường hợp như vậy, vương quốc của họ vẫn là bất khả xâm phạm.
Trong tình huống này, việc mời bếp trưởng ra khỏi bếp để đến bàn ăn có tính chất như một mệnh lệnh. Thực tế nó là một mệnh lệnh bởi khi Warren Trent vắng mặt, Peter McDermott là viên -chức cao cấp nhất của khách sạn. Đồng thời Peter cũng có thể đứng đợi ở cửa bếp để được mời vào.
Nhưng trong tình huống mà rõ ràng trong bếp có chuyện khủng hoảng, Peter nhận thấy cách giải quyết thứ nhất thỏa đáng hơn. Sam Jakubiec nhận xét trong khi họ ngồi chờ:
– Nếu anh có hỏi ý kiến tôi thì tôi sẽ bảo rằng lão bếp trưởng Hebrand ngủ như vậy là quá dài rồi đấy.
Royau Edwards hỏi:
– Nếu như lão bếp này về hưu thì liệu có ai nhận ra sự thay đổi hay không? Mọi người đều hiểu câu nói đó ám chỉ việc ông bếp trưởng thường xuyên vắng mặt ở bếp và rõ ràng hôm nay một lần nữa ông ta vắng mặt.
– Chẳng bao lâu nữa sự kết thúc đó sẽ đến với tất cả chúng ta – Kỹ sư trưởng lầm bầm – Tất nhiên không một ai muốn nó đến mau cả – Rõ ràng thái độ cay nghiệt lạnh lùng của ông quản lý đôi khi làm cho ông kỹ sư trưởng vốn vui tính cũng phải nổi đóa.
– Tôi chưa lần nào được gặp anh bếp phó mới của chúng ta – Jakubiec nói – Có lẽ lúc nào anh ta cũng lúi húi trong bếp.
Royal Edwards đưa mắt nhìn xuống chiếc đĩa thức ăn gần nhất chưa hề đụng tới:
– Nếu như anh ta vẫn cắm cúi trong bếp thì chắc chắn anh ta có một khứu giác hết sức tồi.
Ông quản trị trưởng vừa nói đến đây thì cửa bếp lại một lần nữa mở toang. Một hầu bàn phụ trách bước vào đứng dừng lại, vẻ cung kính, khi thấy ông Max bồi trưởng xuất hiện. Đi sau ông mấy bước là một người cao gầy mặc toàn đồ trắng hồ cứng, đầu đội mũ bếp trưởng, vẻ mặt đau khổ thiểu não.
Peter tuyên bố với mấy viên chức quản lý:
– Thưa quý vị, nếu quý vị chưa được gặp thì tôi xin giới thiệu đây là ông đầu bếp André Lemieu.
– Messieurs – Người đàn ông Pháp trẻ tuổi dừng lại, giang hai tay ra tỏ vẻ tuyệt vọng – Tôi rất buồn vì đã để chuyện này xảy ra – Giọng anh nghẹn lại.
Peter McDermott đã gặp người bếp phó này đôi ba lần kể từ khi anh ta đến làm ở khách sạn St. Gregory cách đây sáu tuần. Cứ mỗi lần gặp, Peter lại cảm thấy mến anh ta hơn.
André Lemieu được bổ nhiệm ngay sau khi người bếp phó trước đây đột ngột ra đi. Anh này sau nhiều tháng thất vọng và bực dọc đã xô xát với cấp trên của mình là ông bếp trưởng Hebrand. Thông thường sẽ không có chuyện gì ghê gớm sau sự kiện đó, bởi những cơn bực bội va chạm giữa bếp trưởng và những người nấu bếp ở các bếp lớn là chuyện thường xuyên. Thế nhưng sự kiện này khác thường ở chỗ anh bếp phó kia đã hất cả một liên xúp vào người ông bếp trưởng. Cũng may đó là xúp rau loãng, chứ nếu không hậu quả sẽ còn nghiêm trọng hơn nhiều.
Một cảnh thật khó quên: ông bếp trưởng trong bộ đồ trắng ướt đầm, nước rỏ ròng ròng, lôi anh chàng phụ tá của mình ra cửa dành cho nhân viên đi ra phố, và tại đó bằng một sức mạnh kỳ lạ tưởng không thể có được ở một ông già, ông đã đẩy anh ta bật qua cửa. Một tuần sau, người ta thuê André Lemieu.
Trình độ anh ta thật tuyệt vời. Anh đã được tu nghiệp tại Paris, làm việc ở Lon don, trong các khách sạn Prunier và Sevoy, sau đó có một thời gian ngắn tại Le Pavillon ở New York trước khi nhận một chức cao tại New Orleans.
Song Peter cảm thấy chỉ mới trong một thời gian ngắn ở St. Gregory, anh chàng bếp phó đã gặp phải thất bại như người bếp phó trước đây. Đó là việc ông Hebrand kiên quyết không cho phép thay đổi lề lối làm việc trong bếp, mặc dù ông bếp trưởng thường xuyên vắng mặt và phải nhường quyền phụ trách cho anh bếp phó. Peter cảm thông với anh ta vì tình cảnh bị o ép của anh ta có nhiều nét rất giống quan hệ giữa anh với ông Warren Trent.
Peter chỉ một chỗ còn trống ở chiếc bàn ăn của viên chức quản lý:
– Mời anh cùng ngồi với chúng tôi.
– Cảm ơn, monsieur (ông) – Anh chàng người Pháp trang nghiêm ngồi xuống chiếc ghế mà người bồi trưởng kéo ra cho anh ta.
Sau khi anh ta đến, bồi bàn không đợi chỉ thị của cấp trên, thay ngay bốn suất ăn trưa bằng món thịt bê Scallopini. Anh ta lấy lại hai suất gà đã làm cho khách ăn khó chịu và trao cho một hầu bàn phụ đang đứng lảng vảng ở đó mang biến nó vào bếp. Cả bốn viên chức quản lý đón lấy bữa ăn mới. Riêng anh bếp phó chỉ một tách cà phê đen đặc – Khá hơn hẳn món cũ – Sam Jakubiec nói, vẻ tán thưởng.
Peter hỏi:
– Anh biết vì sao có chuyện trục trặc như vậy không?
Người bếp phó đưa mắt buồn bã nhìn về phía bếp:
– Nguyên nhân có thể có nhiều. Ở đây, khuyết điểm ở chỗ mỡ rán rất hôi. Chính tôi có lỗi, tôi đã không thay mỡ cũ. Thế mà tôi lại cứ cho phép những thức ăn như vậy rời khỏi bếp đưa ra bàn cho khách ăn. – Anh ta lắc đầu nghi ngờ.
– Một người khó có thể quán xuyết được hết mọi việc – Kỹ sư trưởng nói – Tất cả bọn tôi đều là những người phụ trách nên rất biết điều đó.
Royall Edwards diễn đạt thành lời cái ý nghĩ nảy ra trước tiên trong óc Peter:
– Thật đáng tiếc chúng ta không thể biết chính xác còn có bao nhiêu khách hàng phàn nàn về những món họ đã ăn, và số khách sẽ không bao giờ quay trở lại đây nữa là bao nhiêu.
André Lemieu gật đầu, ủ rủ. Anh ta đặt tách cà phê xuống bàn:
– Xin các ông hãy bỏ qua cho tôi. Monsieur McDermott, có lẽ khi nào ăn xong ông cho tôi được trao đổi một lát, được chứ ạ?
Mười lăm phút sau, Peter bước vào bếp qua cửa thông với phòng ăn. André Lemieu vội vàng ra đón anh.
– Hay quá, ông đã tới.
Peter lắc đầu:
– Tới bao giờ cũng thích thăm các bếp ăn – Anh nhìn quanh. Hoạt động của bữa trưa đang giảm dần. Một vài suất ăn vẫn còn được đưa ra, qua hai phụ nữ trung niên nghiêm nghị như hai cô giáo khó tính ngồi kiểm tra tại các máy tính tiền đặt nhô cao. Nhưng lúc này số đĩa từ phòng ăn đưa vào bếp càng nhiều. Các hầu bàn đang thu dọn và số khách mỗi lúc một vắng. Tại khu vực rửa bát phía sau bếp, sáu người phụ bếp mặc tạp dề cao su đang làm việc nhịp nhàng, đảm bảo cho kịp đống đĩa bát từ mấy quán ăn từ phòng khách hội nghị chuyển xuống. Peter nhận thấy thường thường có thêm một phụ bếp chặn lại -những chỗ bơ ăn còn dở, hớt bỏ vào một cái thùng đựng mạ crôm. Sau đó, ở đa số các bếp ăn thương mại, số bơ thu lại được dùng vào việc nấu nướng, mặc dù thực tế ít khi người ta dám nhận điều đó.
– Thưa ông, tôi muốn nói chuyện riêng với ông. Bởi như ông thấy đấy, có nhiều chuyện không thể nói được trước mặt mọi người.
Peter nói, vẻ đăm chiêu:
– Có một điểm tôi chưa rõ. Theo chỗ tôi biết ông đã chỉ thị phải thay mỡ rán ở cái chảo sâu, nhưng người ta đã không làm, đúng không?
– Đúng như thế.
– Sự việc thế nào?
Anh phó bếp trẻ lúng túng ra mặt:
– Sáng nay tôi đã ra lệnh. Tôi đã ngửi thấy mùi mỡ hôi. Nhưng ông Hebrand không nói gì cho tôi biết, lại ra lệnh ngược lại. Ông Hebrand đã về nhà, tôi ở lại nhưng không biết là mỡ hôi vẫn còn giữ trong chảo.
Peter cười nhạt:
– Và sao ông ta không cho thay?
– Giá mỡ hiện nay đang lên cao. Rất cao. Điều này tôi đồng ý với ông Hebrand. Gần đây chúng tôi đã thay mỡ nhiều lần. Quá nhiều cũng có.
– Ông đã có cách gì tìm ra nguyên nhân chưa?
André Lemieu giơ hai tay lên vẻ tuyệt vọng:
– Tôi đã đề nghị mỗi ngày phải kiểm nghiệm hóa một lần để tìm ra axít béo tự do. Ngay ở đây cũng cần phải có phòng thí nghiệm để tiến hành việc này. Như vậy, bằng tri thức, chúng ta sẽ tìm ra nguyên nhân khiến cho mỡ bị hỏng. Thế nhưng ông Hebrand không tán thành. Cả trong việc này cũng như nhiều việc khác.
– Ông có tin rằng ở đây có nhiều chuyện chưa ổn không?
– Rất nhiều chuyện – câu đáp cụt lủn, khá thiểu não, rồi họ lặng đi một lát tưởng như cuộc trao đổi sẽ chấm dứt ở đây. Thế rồi bỗng nhiên như một đập nước bị vỡ tung, lời nói dồn dập tuôn ra. – ông McDermott ạ, tôi xin nói với ông là còn nhiều việc bê bối lắm, làm việc ở bếp này không vẻ vang gì đâu. Gọi thế nào nhỉ… à, món tả bí lù hổ lốn, cũ không ra cũ, mà mới cũng chẳng ra mới, lãng phí thì nhiều vô kể. Tôi là một đầu bếp có lương tâm, điều này nếu ông hỏi, mọi người sẽ cho ông hay. Những đầu bếp cứ phải lấy làm sung sướng trước những công trình anh ta làm ra, nếu không thì chỉ là kẻ vô dụng. Vâng, thưa ông, tôi muốn tiến hành việc thay đổi, nhiều thay đổi, muốn cải thiện cho khách sạn này, cho ông Hebrand, cho mọi người. Thế nhưng người ta bảo tôi là ấu trĩ, không xoay chuyển được gì đâu.
Peter nói:
– Có thể sẽ có nhiều thay đổi lớn lao ở khắp nơi trong khách sạn này. Ngay sắp tới đây thôi.
André Lemieu đứng thẳng người, vẻ kiêu kỳ:
– Ông định nhắc đến ông O’Keef chứ gì? Dù ông ấy có thay đổi gì chăng nữa, tôi cũng sẽ không ở lại đây đâu. Tôi không có ý định làm anh nấu bếp, nấu những món pha chế sẵn cho một khách sạn chuỗi.
Peter tò mò hỏi:
– Nếu như St. Gregory vẫn là một khách sạn độc lập thì anh dự định có những thay đổi gì?
Họ đã đi gần hết chiều dài của bếp, đó là một phòng hình chữ nhật kéo dài hết toàn bộ bề ngang khách sạn. Ở mỗi cạnh của hình chữ nhật này cũng giống như từ một trung tâm điều khiển xuất phát đưa ra, có nhiều cửa đi vào mấy quán ăn của khách sạn, tới thang máy nhân viên và các buồng chế biến thực phẩm cũng nằm ở tầng này và ở tầng hầm phía dưới. Sau khi đã ngang qua một dãy hai hàng chảo nấu xúp đang sôi sình sịch như vạc dầu của quỷ sứ, họ bước tới một văn phòng cửa bằng kính mà tại đây theo quy ước trên lý thuyết thì hai ông phụ trách bếp, bếp trưởng và bếp phó, phân chia trách nhiệm. Peter thấy cạnh đấy là một cái chảo rán to gấp bốn bình thường, đây chính là nguyên nhân g nên sự bất mãn của khách ăn hôm nay. Một phụ bếp đang chắt ra toàn bộ mỡ. Nhìn qua khối lượng đó, người ta dễ dàng nhận thấy vì sao việc thay mỡ rất tốn kém. Họ dừng lại khi André Lemieu cân nhắc trả lời câu hỏi của Peter.
– Ông định nói đến loại đổi thay gì cơ? Quan trọng nhất là thực phẩm. Đối với một số người làm bếp thì cái bề ngoài, cái đĩa đựng nó như thế nào còn quan trọng hơn vị thơm ngon của nó. Ở khách sạn này, chúng ta tốn khá nhiều tiền của cho việc trang trí. Rau mùi tây nhan nhản khắp nơi. Thế nhưng nước sốt thì không có đủ. Rau cải soong được bầy đầy trên đĩa, trong khi món xúp cần đến nhiều lại không thấy. Và cả cái màu vàng ngậy trên món quay đó nữa chứ! – Chàng Lemieu giơ cả hai tay lên trời một cách tuyệt vọng. Peter mỉm cười, tâm đắc.
– Lại còn rượu vang nữa! Dieu Merci, rượu không thuộc khu vực tôi quản lý.
– Đúng thế – Peter nói. Chính anh cũng thấy khó chịu về những thùng rượu vang nhếch nhác của St. Gregory.
– Tóm lại, thưa ông, thật là một cái bếp loại kém, đầy những chuyện khủng khiếp. Quả thực, nếu bỏ tiền ra để có một đống thức ăn ngồn ngộn chẳng ra gì người ta phải phát khóc lên được. Khóc thật đấy monsieur ạ! – Anh ta dừng lại, nhún vai rồi tiếp tục – Dẹp bớt đi, chúng ta có thể có một bếp ăn đáp ứng được khẩu vị. Hiện nay thì quá đơn điệu, bình thường.
Peter tự hỏi không biết có đúng André Lemieu có đầu óc thực tế trước những vấn đề của St. Gregory đang vướng mắc hay không. Hình như anh bếp phó cũng đoán ra sự nghi ngờ này, anh ta nói – Quả là khách sạn nào cũng có những vấn đề đặc biệt của nó. Đây không phải khách sạn dành cho những người sành ăn. Không có khả năng như vậy được. Chúng ta phải nấu cho thật nhanh để được nhiều suất ăn, phục vụ cho thật nhiều người, những người có nếp sống khẩn trương kiểu Mỹ. Nhưng trong những hạn chế này cũng thấy có mặt hay. Người ta có thể giữ vững truyền thống tốt đẹp này. Tuy nhiên ông Hebrand bảo tôi rằng những ý kiến của tôi đề xuất ra tốn kém quá. Thế nhưng tôi đã chứng minh rằng không có gì là ghê gớm cả.
– Ông đã chứng minh như thế nào?
Mời ông vào đây. Người đàn ông Pháp trẻ tuổi dẫn anh vào văn phòng tường bằng kính. Đó là một cái phòng hình vuông nhỏ, đặt hai bàn làm việc, có ngăn giá đựng tài liệu và tủ kê kín ba mặt tường. André Lemieu đến chiếc bàn nhỏ. Anh ta rút ở ngăn kéo ra một chiếc cặp bìa to dày và lấy một tập tài liệu, trao cho Peter:
– Ông hỏi thây đổi như thế nào à? Trong này nói hết cả.
Peter McDermott tò mò, mở cặp tài liệu. Tập giấy có nhiều trang viết kín đặc bằng kiểu chữ mảnh đều đặn. Có một vài tờ khổ lớn hơn, gập đôi, chắc đó là những biểu đồ.
Tất cả đều được vẽ và viết nắn nót. Anh nhận ra đây chính là dự án của một người có trình độ nhằm cải tổ lại toàn bộ khách sạn. Trên những trang tiếp sau thấy có các giá ước tính, thực đơn, một phương án kiểm soát chất lượng và dự án tổ chức lại đội ngũ nhân viên. Chỉ mới lướt nhanh qua tập đề án này, anh đã thấy bị cuốn hút bởi toàn bộ quan điểm và năng lực nắm vững chi tiết của tác giả dự án.
Peter ngước lên, bắt gặp cái nhìn chăm chú của anh bạn kia:
– Tôi muốn được nghiên cứu kỹ tập này nếu anh cho phép.
– Ông cứ cầm lấy mà đọc. Không cần vội lắm đâu – Anh phó bếp mỉm cười, thiểu não: – Người ta bảo tôi rằng những dự án này ít có khả năng trở thành hiện thực.
– Tôi hết sức ngạc nhiên là làm sao trong một thời gian ngắn ngủi như vậy mà anh có thể vạch ra nổi một đồ án chi tiết đến thế.
André Lemieu nhún vai:
– Phát hiện những chuyện bê bối cũng nhanh thôi ông – Có lẽ chúng ta cũng nên áp dụng quan điểm đó để phát hiện ra chuyện trục trặc ở cái chảo rán ngập này.
Lúc đầu anh ta phản ứng lại bằng vẻ diễu cợt, sau đó ảo não:
– Touché! Thực ra tôi cũng đã quan tâm đến việc này, nhưng không phải là thứ mỡ nóng mà tôi ngửi thấy.
Peter phản đối:
– Không phải. Qua những điều anh nói với tôi, tôi thấy anh đã phát hiện ra mỡ hôi nhưng người ta đã không chịu thay mỡ theo chỉ thị của anh.
– Lẽ ra tôi đã phải tìm ra được nguyên nhân tại sao mỡ bị hôi. Cái gì cũng có nguyên nhân của nó. Nếu chúng ta không sớm phát hiện thì bê bối này ngày một lớn thêm.
– Bê bối như thế nào?
– Cũng may là hôm nay chúng tôi dùng mỡ rán rất ít. Thế nhưng ngày mai có tới sáu trăm suất ăn rán phục vụ bữa trưa cho hội nghị.
Peter huýt sáo nhỏ:
– À ra vậy.
Họ đã đi từ văn phòng ra đứng bên cạnh chiếc chảo rán ngập đang được kỳ cọ sạch hết thứ mỡ đã gây cho khách ăn nỗi khó chịu vừa rồi.
Tất nhiên mỡ dùng sáng ngày mai là mỡ mới. Lần thay mỡ gần đây nhất là bao giờ?
– Hôm qua.
– Mới hôm qua thôi ư.
André Lemieu gật đầu:
– Ông Hebrand phàn nàn tốn kém cũng phải thôi.
Nhưng nguyên nhân của tình trạng tồi tệ này là gì thì chưa ai rõ.
Peter chậm rãi:
– Để tôi cố nhớ lại một đôi điều về hóa thực phẩm xem sao nhé. Điểm sôi của mỡ còn tốt là…
– Bốn trăm hai mươi lăm độ. Không được đun sôi hơn nếu không mỡ sẽ cháy. Và khi mỡ cũ hỏng thì điểm sôi của nó sẽ từ từ hạ xuống.
– Xuống rất chậm, nếu không vì nguyên nhân gì khác.
– Ở đây anh đã rán ở nhiệt độ…
– Ba trăm sáu mươi độ ( [29] ), và đây là nhiệt độ thích hợp nhất cho các bếp ăn và cho các bà nội trợ.
– Vì vậy khi điểm sôi còn giữ ở khoảng ba trăm sáu mươi thì mỡ còn đủ tác dụng. Dưới nhiệt độ đó, mỡ sẽ không có tác dụng.
– Thưa ông, đúng là như vậy. Và mỡ sẽ làm cho thức ăn có mùi khó chịu, có vị hôi như hôm nay.
Những sự kiện này đã có một thời Peter nhớ rất kỹ, rồi lãng quên vì không được dùng đến, nay lại trỗi dậy trong đầu Peter. Hồi còn ở Comeu có một giáo trình về hóa thực phẩm cho các sinh viên khóa quản lý khách sạn. Anh lờ mờ nhớ lại một bài giảng… Ở phòng Startler vào một buổi chiều trời u ám, băng giá trắng xóa đọng trên những ô kính cửa sổ. Anh đã từ ngoài trời, không khí mùa đông lạnh buốt, bước vào phòng. Bên trong ấm cúng, tiếng giảng bài đều đều… các loại mỡ và chất xúc tác.
Peter vừa hồi tưởng vừa nói:
– Có những chất mà khi tiếp xúc với mỡ sẽ hoạt động như những chất xúc tác và sẽ phân hủy mỡ rất nhanh.
– Đúng thế, ông ạ – André Lemieu giơ những ngón tay ra kiểm tra lại – Đó là hơi nước, muối, các mối nối bằng đồng trong chiếc chảo rán, nhiệt độ quá cao, dầu ô liu. Tôi đã kiểm tra tất cả những tác nhân đó. Nhưng đó chưa phải là nguyên nhân chủ yếu.
Peter bỗng nảy ra một ý nghĩ. Nó liên quan một cách vô thức với điều anh đã quan sát được, khi anh nhìn người ta cọ rửa chiếc chảo rán trước đây một lúc.
– Thế những những chiếc chảo để rán của anh làm bằng gì?
– Bằng crôm – Giọng Lemieu có vẻ lúng túng. Cả hai người đều biết rõ crôm là thứ kim loại vô hại đối với mỡ.
Peter nói:
– Tôi muốn biết lớp mạ có tốt không. Và nếu lớp mạ không tốt thì dưới lớp crôm là gì và có mòn ở chỗ nào không?
Lemieu ngập ngừng, đôi mắt hơi mở rộng. Anh lặng lẽ nhấc một chiếc chảo lên, dùng miếng vải lau kỹ. Họ đến gần một ngọn đèn, xem xét bề mặt kim loại. Lớp mạ đã xây xát vì dùng thường xuyên trong thời gian dài. Nhiều chỗ lốm đốm lớp mạ đã bong hoàn toàn và lóe ra những ánh vàng.
– Đồng thau! – Anh chàng người Pháp vỗ tay lên trán – thôi đúng rồi, đây chính là nguyên nhân làm cho mỡ hôi. Thế mà tôi ngốc quá không nghĩ ra.
– Không nên tự trách mình như vậy. Rõ ràng trước khi anh đến đây rất lâu, một anh bếp trưởng nào đó vì muốn tiết kiệm nên mua loại chảo rán rẻ tiền như thế này. Đáng tiếc là cuối cùng lại gây ra tốn kém hơn.
– Thế mà tôi không phát hiện được điều này để đến bây giờ ông tìm ra – André Lemieu gần như rưng rưng nước mắt – Lại phải để ông sục vào tận bếp và bằng kiến thức sách vở chỉ cho tôi biết ở đây trục trặc cái gì. Kể cũng thật khôi hài.
Peter nói:
– Nếu tôi có tìm ra thì cũng chính là nhờ anh đã nói ra trước. Không ai biết đó là ý kiến của tôi đâu.
André nói chậm rãi:
– Mọi người vẫn ca ngợi anh là người tốt, thông minh. Hôm nay đến lượt chính tôi nhận thấy đúng như vậy.
Peter sờ vào tập tài liệu trên tay anh:
– Tôi sẽ đọc báo cáo của anh và sẽ cho anh biết ý kiến của tôi.
– Cảm ơn anh. Tôi sẽ đề nghị cho mua những chiếc chảo rán mới. Bằng thép không rỉ. Dù có phải gân cổ ra để hét vào tai ai thì đến tối nay ở bếp này nhất định vẫn phải có những chiếc chảo rán mới.
Peter mỉm cười.
– Monsieur, còn một điều nữa tôi đang băn khoăn suy nghĩ.
– Chuyện gì vậy?
Anh bếp phó trẻ tuổi ngập ngưng:
– Có lẽ anh cho tôi quá tự phụ. Nhưng anh McDermott ạ, tôi thấy anh với tôi mà được rộng cẳng thì chúng ta có thể biến khách sạn này thành một khách sạn xôm trò đấy.
Peter bật cười khanh khách. Nhưng câu nói đó như một lời tuyên bố khiến Peter McDermott phải suy nghĩ suốt trên đường trở về văn phòng của mình ở tầng lửng.
